Monday, 30/11/2020 - 09:22|
WEBSITE ĐANG CHẠY THỬ NGHIỆM
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG THỰC TẬP SƯ PHẠM CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM LẠNG SƠN

Tóm tắt: Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng công tác quản lý cũng như thực trạng hoạt động thực tập sư phạm của sinh viên trường CĐSP Lạng Sơn; đưa ra các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng hoạt động này cho sinh viên, góp phần nâng cao chất...

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

HOẠT ĐỘNG THỰC TẬP SƯ PHẠM CỦA SINH VIÊN

 TRƯỜNG  CAO ĐẲNG  SƯ PHẠM  LẠNG SƠN

 

Nguyễn Thế Dương

Phó Hiệu trưởng

1. MỞ ĐẦU

Trường sư phạm là “máy cái” của ngành GD-ĐT với trách nhiệm nặng nề là đào tạo giáo viên có đủ phẩm chất và năng lực tham gia vào sự nghiệp GD-ĐT thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Việc trang bị tri thức, rèn kỹ năng nghề nghiệp cho SV là việc làm cần thiết, là cơ sở, nền tảng giúp sinh viên (SV) phát huy năng lực nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI đã chỉ rõ: Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành. Do vậy, rèn kỹ năng nghề nghiệp là một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong quá trình đào tạo, có ý nghĩa quyết định hình thành phẩm chất và năng lực nghề nghiệp cho SV. Đây là hoạt động có ý nghĩa thực tiễn, là nội dung bắt buộc để SV áp dụng những tri thức về chuyên môn, nghiệp vụ một cách tích cực vào thực tế, hình thành kỹ năng sư phạm cơ bản. Đồng thời cũng là một dịp để trường sư phạm đánh giá “nghiệm thu” kết quả đào tạo, xem xét việc đào tạo giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.

         Trong thời gian qua, trường CĐSP Lạng Sơn đã thường xuyên chú trọng đổi mới phương pháp dạy học, quan tâm đến việc bồi dưỡng tay nghề, rèn luyện kỹ năng sư phạm cho SV thông qua nhiều hình thức. Tuy nhiên, việc tổ chức, quản lý hoạt động thực tập sư phạm (TTSP) chưa thật hợp lý, phương thức chỉ đạo đôi khi mang tính hình thức, chưa diễn ra thường xuyên, chủ yếu tập trung vào các đợt thi đua và TTSP; nội dung rèn luyện  nghiệp vụ sư phạm (NVSP) chưa đi vào chiều sâu, chưa phát huy hết tiềm năng nghề nghiệp trong SV; ý thức chủ động, năng lực sáng tạo của SV còn hạn chế, tiệm cận với yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp các bậc học chưa cao, một số CBGV quan tâm chưa đúng mức với hoạt động này làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục và đào tạo hiện nay.

2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

         2.1. Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động TTSP của sinh viên trường CĐSP Lạng Sơn

Dựa trên cơ sở các văn bản pháp quy của Bộ GD-ĐT về quản lý và chỉ đạo TTSP, trường CĐSP Lạng Sơn đã cụ thể hoá mục đích, nội dung, cách thức tiến hành, phương châm chỉ đạo cũng như quy trình tổ chức, quản lý, tiêu chí kiểm tra, đánh giá TTSP…Đặc biệt trong kế hoạch, nhà trường đã chỉ rõ yêu cầu; cách thức, thời điểm thực hiện và các tiêu chí, cách đánh giá mỗi nội dung, quy định cụ thể danh mục các văn bản cần có trong hồ sơ thực tập và phổ biến đến SV. Do đó, trong nhiều năm việc tổ chức, chỉ đạo công tác đào tạo nói chung và công tác TTSP nói riêng, trường CĐSP Lạng Sơn đã đạt được nhiều kết quả khả quan.

         Khảo sát 35 CBQL, GV trường CĐSP Lạng Sơn và 65 CBQL, GV các trường phổ thông, mầm non trên địa bàn tỉnh về công tác quản lý hoạt động TTSP. Kết quả cho thấy:

         - Công tác quản lý việc xây dựng kế hoạch TTSP: Công tác này được thực hiện tương đối tốt, cho nên trong quá trình thực hiện, hoạt động TTSP diễn ra một cách tương đối tuần tự, suôn sẻ, hầu như không mắc phải trở ngại lớn. Tuy nhiên nếu được quản lý chặt chẽ hơn sẽ có kết quả khả quan hơn góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động TTSP.

- Chỉ đạo thực hiện toàn diện nội dung TTSP: Trên tinh thần đổi mới, nội dung giáo dục cần cập nhật liên tục, do vậy sự phối hợp với trường sở tại giữ vị trí quan trọng. Ở đó, với tư cách hướng dẫn SV thực tập, đồng thời họ cũng là cơ sở sử dụng kết quả đào tạo của trường CĐSP.

- Chỉ đạo thực hiện quy trình TTSP: Việc tổ chức, chỉ đạo, triển khai thực hiện qui trình TTSP được nhà trường đặt ra là một tiêu chí quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này. Nghiên cứu cho thấy, nhà trường đã thực hiện tổ chức chỉ đạo thực hiện hoạt động TTSP theo đúng quy trình nhưng chưa thực sự linh hoạt và hiệu quả, như việc cụ thể hóa các văn bản chỉ đạo ở từng khâu cụ thể của TTSP.

- Quản lý việc kiểm tra, đánh giá hoạt động TTSP: Để nâng cao chất lượng của công tác kiểm tra, đánh giá cũng như tính khả thi của hệ thống các tiêu chí đánh giá, nhà trường cử CBQL có kinh nghiệm, chuyên môn vững để kiểm tra, đánh giá TTSP ở các trường. Đây thật sự là một bước tiến, sự đầu tư vượt bậc cho công tác TTSP, tuy nhiên kết quả đạt được chưa cao, mới chỉ đáp ứng được một phần đòi hỏi cũng như yêu cầu đặt ra cho công tác này.

- Quản lý vật chất phục vụ hoạt động TTSP: Điều kiện cơ sở vật chất là tác nhân có ảnh hưởng lớn đến chất lượng, hiệu quả của hoạt động TTSP. Vì vậy, nhà trường đã có nhiều biện pháp nhằm tăng cường điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho TTSP. Tuy nhiên, do khối lượng công việc quá nhiều, tập trung trong khoảng thời gian ngắn nên khó tránh khỏi những sai sót. Mặt khác, kinh phí cho giáo viên hướng dẫn thấp, đây là vấn đề được trường CĐSP Lạng Sơn quan tâm nhưng do phải tuân thủ theo quy định của Bộ GDĐT cũng như quy định của tài chính.

         2.2. Thực trạng hoạt động TTSP của SV trường CĐSP Lạng Sơn

- Nhận thức của CBQL và giáo viên về tầm quan trọng của TTSP: Qua khảo sát cho thấy có 88% CBQL, GV được hỏi, đánh giá cao ý nghĩa và vai trò quan trọng của TTSP, còn có 12 % cho rằng TTSP có vai trò bình thường trong quá trình đào tạo  giáo viên bởi họ nghĩ rằng điều quan trọng là kết quả học tập rèn luyện của SV mới có ý nghĩa quyết định.

- Thực hiện các nội dung và các khâu TTSP của CBQL và giáo viên ở trường CĐSP Lạng Sơn: Về cơ bản, CBQL, GV đánh giá mức độ thực hiện các nội dung TTSP cao và khá tương đồng. Tuy nhiên, một số nội dung rèn nghề chưa thực sự cập nhật và theo hướng tiếp cận năng lực người học. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc chuẩn bị tri thức lý luận và kỹ năng sư phạm cũng như chỉ đạo kiểm tra, đánh giá hoạt động TTSP đạt điểm thấp nhất. Có nhiều nguyên nhân:

Thứ nhất, đa số SV có ý thức, động cơ, hứng thú cũng như tâm thế sẵn sàng cho hoạt động nghề nghiệp. Tuy nhiên số ít động cơ, hứng thú cho hoạt động nghề nghiệp chưa cao, chưa thực sự nỗ lực, tích cực tham gia học tập và rèn luyện.

Thứ hai, nhà trường tổ chức các hoạt động nội, ngoại khoá, rèn luyện NVSP thường xuyên có tính chuyên nghiệp, tính hệ thống, tính kế hoạch. Các cấp quản lý luôn quan tâm, chỉ đạo sát, đúng hướng. Tuy nhiên, hiện nay trường CĐSP Lạng Sơn chưa xây dựng được cơ sở, trường thực hành sư phạm theo đúng nghĩa.

Thứ ba, địa bàn TTSP không ổn định do số lượng SV biến động theo năm học; việc liên kết, lựa chọn cơ sở TTSP của nhà trường mang tính thời vụ, chưa có sự phối hợp nhịp nhàng, gắn bó dẫn đến công tác hướng dẫn, chỉ đạo TTSP bị động.

Thứ tư, kinh phí dành cho TTSP, điều kiện cơ sở vật chất trường lớp, chất lượng và quy mô lớp học phục vụ cho TTSP còn thiếu, chưa mang tính đặc trưng.

         Thứ năm, những năm gần đây, giáo dục phổ thông có sự chuyển biến rõ nét, nhiều quan điểm giáo dục mới, mô hình giáo dục mới được hình thành. Nhà trường đã quan tâm đến việc cập nhật trong quá trình đào tạo. Tuy nhiên, những yêu cầu về mô hình trường học mới đòi hỏi người dạy phải giỏi về chuyên môn, vững vàng về nghiệp vụ nhưng SV với tư cách là người đi học việc, còn có những hạn chế nhất định.

Tóm lại, qua nghiên cứu cho thấy thực trạng công tác TTSP và quản lý TTSP cho SV trường CĐSP Lạng Sơn như sau:

- Hoạt động TTSP của SV trường CĐSP Lạng Sơn được thực hiện khá tốt với đầy đủ các nội dung TTSP, các khâu của TTSP đều được chuẩn bị khá chu đáo, cơ bản đáp ứng được với yêu cầu đào tạo giáo viên.

- Nhà trường đã áp dụng nhiều biện pháp quản lý cụ thể về các mặt lập kế hoạch, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra, đánh giá, tuy nhiên, mức độ thực hiện các biện pháp quản lý còn thấp hơn so với mức độ nhận thức.

- Các nguyên nhân ảnh hưởng đến công tác quản lý TTSP rất đa dạng về chủ thể quản lý, cơ chế làm việc, nội dung chương trình, nguồn lực cơ sở vật chất. Mức độ ảnh hưởng đến quản lý chỉ đạo hoạt động TTSP là khá cao. Bên cạnh, còn nhiều yếu tố ảnh hưởng chưa tốt đến hoạt động TTSP, làm cho kết quả chưa cao. Thực trạng đó là cơ sở gợi mở cho việc đề xuất, hoàn thiện biện pháp quản lý TTSP mới.

         2.3. Biện pháp quản lý nâng cao chất lượng hoạt động TTSP của SV ở trường CĐSP Lạng Sơn

    2.3.1. Nâng cao nhận thức về vai trò, tác dụng của hoạt động TTSP

Quán triệt các tổ chức Đảng, chi bộ nhà trường cũng như từng cán bộ, GV xem đây là một nhiệm vụ chính trị trọng tâm cần được được thực hiện nghiêm túc. Giáo dục nghề nghiệp cho SV thông qua giảng dạy các học phần rèn luyện NVSP, học phần kiến thức TTSP, hoạt động rèn luyện NVSP, hội thi nghiệp vụ sư phạm; thường xuyên được tích hợp, lồng ghép giảng dạy các học phần trong chương trình đào tạo chuyên môn. Chuẩn bị hành trang cho các đoàn đi TTSP thông qua tổ chức tập huấn, các buổi ngoại khóa...

         2.3.2. Tăng cường hiệu quả hoạt động thực tế phổ thông

            -  Tổ chức hoạt động thực tế giáo dục của CBQL&GV: Mỗi CBGV và đơn vị xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả hoạt động thực tế phổ thông ngay đầu năm học. Qua đó, CBGV chủ động đề xuất điều chỉnh chương trình đào tạo và bồi dưỡng giáo viên theo yêu cầu của thực tế giáo dục. CBQL&GV tăng cường tham gia các lớp tập huấn, hội thảo, hội nghị về giáo dục phổ thông, mầm non để thâm nhập thực tế, như mô hình trường học mới, giao tiếp trong dạy học Tiếng Anh…

- Tăng cường giúp đỡ SV tháo gỡ những khó khăn trong thực tập, thực tế phổ thông: Hướng dẫn SV đặt mục tiêu trong đợt thực tập sư phạm phù hợp với bản thân; Giáo viên chủ động xây dựng kế hoạch cụ thể đi thực tế phổ thông trong đợt SV đi thực tập sư phạm để SV có điều kiện gần gũi, trao đổi những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong môi trường TTSP.

- Tổ chức cho SV tham gia thực tế phổ thông trong thời gian học các học phần: Tổ chức cho SV đi thực tế phổ thông ngay từ những năm đầu tiên khi nghiên cứu các học phần Tâm lý học, Giáo dục học để  tìm hiểu những biểu hiện tâm lý của HS trong quá trình hoạt động, thực hiện các bài tập thực hành môn học. Tham gia hoạt động giáo dục cùng GVPT, GVMN để tìm hiểu và tích kũy kinh nghiệm cho bản thân.

         2.3.3. Cải tiến chương trình và đa dạng hóa các hình thức rèn luyện NVSP

Quản lý chặt chẽ hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV trong suốt quá trình đào tạo. Đổi mới công tác tổ chức thi NVSP; xây dựng kế hoạch tổ chức một cách bài bản, chu đáo; nội dung cuộc thi phải thiết thực, sát thực, phản ánh đúng với thực tiễn; hình thức thi phải đa dạng, phong phú, hào hứng, hấp dẫn và phù hợp tránh việc làm mang tính hình thức, phong trào.

         2.3.4. Hoàn thiện và thực hiện khoa học quy trình quản lý hoạt động TTSP 

Xây dựng, hoàn thiện và thực hiện quy trình quản lý hoạt động TTSP một cách khoa học, cụ thể và linh hoạt theo các bước sau:

Bước1: Chuẩn bị cho hoạt động TTSP. Trên cơ sở ý kiến chỉ đạo của Sở GDĐT, phối hợp với Phòng GDĐT, các cơ sở, nhà trường xây dựng kế hoạch, thành lập ban chỉ đạo các cấp, chọn cử và bồi dưỡng các trưởng, phó đoàn, biên chế SV theo từng đoàn. Tổ chức tập huấn cho CBQL, giáo viên hướng dẫn và SV về nội quy, quy chế TTSP cũng như nội dung của đợt TTSP, các văn bản cần thực hiện. Họp đoàn TTSP để sinh viên hiểu được toàn bộ nội dung của đợt TTSP.

Bước 2: Chỉ đạo, tổ chức tiến hành kế hoạch TTSP

Bước 3: Đánh giá kết quả TTSP của SV.

Bước 4: Tổng kết TTSP. Tổng kết TTSP được tiến hành theo phân cấp Ban chỉ đạo, trên cơ sở ý kiến đề nghị của ban chỉ đạo các cấp và những vấn đề hạn chế của các năm học trước, nhà trường từng bước rút kinh nghiệm và điều chỉnh một số vấn đề trong công tác chỉ đạo, hồ sơ  thực tập.

         2.3.5. Tăng cường sự phối hợp giữa cơ sở đào tạo với cơ sở TTSP; tham mưu cho Sở GD&ĐT và các Phòng GD&ĐT

         - Tổ chức phối hợp giữa cơ sở đào tạo và cơ sở TTSP: Cơ sở đào tạo phải chủ đạo trong việc tổ chức, phối hợp; cơ sở TTSP phải chủ động tích cực hợp tác và thực hiện theo hướng dẫn về công tác TTSP cũng như có ý kiến đề xuất, phản hồi và điều chỉnh hợp lý phù hợp với điều kiện và khả năng của cơ sở mình.

- Phối hợp chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo và cơ sở giáo dục: Căn cứ vào nhiệm vụ của từng cấp quản lý đối với công tác TTSP và quy chế TTSP của Bộ GD&ĐT quy định, nhà trường đã tham mưu với Sở GD&ĐT, chủ động phối hợp với Phòng GD&ĐT và các cơ sở TTSP, xây dựng cơ cấu sư phạm - phổ thông bằng cách tổ chức hội nghị liên tịch, hội thảo nâng cao chất lượng hoạt động TTSP.

- Tổ chức Hội nghị liên tịch triển khai công tác thực tập sư phạm tốt nghiệp trước khi đi thực tập: Nhằm thống nhất chủ trương, quan điểm chỉ đạo của đợt thực tập, đồng thời giải đáp những thắc mắc, khó khăn khi triển khai thực hiện.

         2.3.6. Đổi mới  kiểm tra, đánh giá hoạt động TTSP

Kiểm tra, đánh giá hoạt động TTSP có vai trò quan trọng. Trước hết cần xây dựng tiêu chí đánh giá thống nhất sát với nội dung TTSP, đặc biệt theo hướng tiếp cận năng lực người học. Thường xuyên từ khi triển khai đến khi kết thúc đợt TTSP. Sử dụng nhiều phương pháp kiểm tra khác nhau để có những kết luận xác đáng. Báo cáo kết quả kiểm tra với ban chỉ đạo TTSP cấp trên.

2.4. Đánh giá hiệu quả của các biện pháp

Kết quả nghiên cứu  cho thấy: Đại đa số CBQL&GV được khảo sát đều nhất trí cao về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất trong việc cải thiện, nâng cao chất lượng TTSP, tuy nhiên vẫn còn một số ít CBQL&GV đánh giá ở mức độ trung bình. Để đánh giá sự tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lí  nâng cao chất lượng hoạt động TTSP, chúng tôi sử dụng công thức tính tương quan thứ bậc của Spearman.

Bảng 2.1. Mối quan hệ giữa tính cần thiết và tính khả thi của

 các biện pháp quản lí TTSP

TT

Biện pháp quản lý

Mức độ

cần thiết

Mức độ

 khả thi

di

di2

`X

TB

`X

TB

1

Nâng cao nhận thức về vai trò, tác dụng của hoạt động TTSP

2.95

3

2.92

5

-2

4

2

Tăng cường hiệu quả hoạt động thực tế phổ thông

2.99

1

2.98

1

0

0

3

Cải tiến chương trình và đa dạng hóa các hình thức rèn luyện NVSP

2.95

3

2.93

3

0

0

4

 Hoàn thiện và  thực hiện khoa học, linh hoạt quy trình quản lý hoạt động TTSP 

2.94

5

2.93

3

2

4

5

Tăng cường sự phối hợp giữa cơ sở đào tạo với cơ sở TTSP, và với Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT

2.92

6

2.90

6

0

0

6

Đổi mới, cải tiến  kiểm tra, đánh giá hoạt động  TTSP

2.96

2

2.95

2

 

 

   Áp dụng công thức tính :

Trong đó:            P là hệ số tương quan

                              d là hiệu số thứ bậc hai đại lượng đem ra so sánh

                              n là số đơn vị (số biện pháp)

   Kết quả thu được: P = 0.54.  Với hệ số tương quan thứ bậc Spearman P<1 cho phép rút ra kết luận giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý đề xuất có mối tương quan đồng thuật chặt chẽ. Điều đó khẳng định: Các đề xuất chúng tôi đưa ra đã nhận được sự đồng thuận và hưởng ứng rất tích cực từ phía các chuyên gia, CBQL&GV hướng dẫn, những người trực tiếp tham gia công tác chỉ đạo TTSP cho SV. Tuy chưa nhận được sự đồng thuận 100% nhưng chúng tôi hy vọng hiệu quả của những đề xuất được thể hiện trong thực tiễn sẽ minh chứng cho tính đúng đắn, khoa học và gạt bỏ những nghi ngờ từ phía CBQL&GV hướng dẫn tham gia công tác quản lý, tổ chức, hướng dẫn hoạt động TTSP cho SV ở trường CĐSP Lạng Sơn.

Các biện pháp trên có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ cho nhau vì vậy phải được thực hiện một cách đồng bộ. Các biện pháp cần được hoàn thiện trong mỗi năm học, đáp ứng đón đầu đổi mới định hướng giáo dục tiếp cận năng lực theo tinh thần của Nghị quyết 29NQ/TW ngày 04/11/2013 về Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam.

3. KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu lý luận và thực trạng công tác TTSP ở trường CĐSP Lạng Sơn cho thấy, công tác quản lý TTSP của SV được thực hiện khá tốt với đầy đủ các nội dung, các khâu của TTSP. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thực tập sư phạm rất đa dạng về chủ thể quản lý, cơ chế làm việc, nội dung chương trình, nguồn lực cơ sở vật chất… Mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân đến quản lý chỉ đạo thực tập sư phạm cho SV sư phạm của nhà trường khá cao. Từ nghiên cứu lý luận và thực trạng hoạt động TTSP cũng như quản lý TTSP của SV, để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý TTSP, đề tài đề xuất 6 nhóm biện pháp quản lý cơ bản. Việc áp dụng các biện pháp trên vào hoạt động thực tập sư phạm đã đem lại hiệu quả thiết thực, khẳng định được giá trị của các biện pháp đề xuất. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả của công tác này, đòi hỏi nhà quản lý cũng như cán bộ GV, SV cần cập nhật thực tế phố thông, trang bị năng lực chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, thái độ cầu thị, quản lý khoa học, đồng bộ, phối hợp tương tác nhịp nhàng thì hoạt động này mới thực sự hiệu quả. Vì vậy, đòi hỏi sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, sự vào cuộc của các lực lượng giáo dục để hoạt động này đạt được kết quả khả quan, nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường, góp phần phát triển giáo dục của tỉnh Lạng Sơn.

 

                                     TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Báo cáo tổng kết công tác TTSP Trường CĐSP Lạng Sơn năm học 2013- 2014, 2014 - 2015, 2015 - 2016.

2. Bộ GD&ĐT, 2003. Quy chế thực hành TTSP áp dụng cho các trường Đại học, Cao đẳng đào tạo GV phổ thông, mầm non trình độ cao đẳng hệ chính quy (Ban hành theo quyết định 36/2003).

3. Bộ GD&ĐT, Dự án đào tạo GV THCS, Loan No 1718 - VIE (SF) (2005). Rèn luyện NVSP thường xuyên. NXB Đại học sư phạm.

        4. Nguyễn Đình Chỉnh - Phạm Trung Thanh,2001. Kiến tập và TTSP. NXB Giáo dục.

        5. Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ 8 BCHTW Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

 

 

 


Nguồn:langson.gov.vn Copy link
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết