Công tác Kiểm định chất lượng giáo dục và xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2018 - 2021
Công tác Kiểm định chất lượng giáo dục và xây dựng trường học đạt chuẩn
quốc gia trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2018 - 2021
I. Đặc điểm tình hình
1. Khái quát chung
Toàn tỉnh hiện có 674 đơn vị, trường học (giảm 51 trường so với năm học 2018-2019), cụ thể: 232 trường mầm non (không tăng, giảm so với năm học 2018-2029); 180 trường tiểu học (giảm 45 trường); 72 trường tiểu học và trung học cơ sở (tăng 30 trường); 145 trường THCS (giảm 41 trường); 26 trường trung học phổ thông (giảm 01 trường); 06 trường PTDTNT THCS&THPT (tăng 06 trường); 01 trường THCS&THPT (tăng 01 trường); 02 trung tâm giáo dục thường xuyên; 09 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên và trường Cao đẳng Sư phạm.
Số lượng học sinh, sinh viên là 205.372 (tăng 12.524 HSSV so với năm học 2018-2019), trong đó cấp mầm non 53.829; tiểu học 75.398; trung học cơ sở 48.431, trung học phổ thông 22.353, giáo dục thường xuyên 3.874 và trường chuyên nghiệp 1.487.
2. Đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, giáo viên
Năm học 2021-2022, toàn ngành có 20.626 cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên. Trong đó: Cán bộ quản lý 1.800; giáo viên: 14.661; Nhân viên: 4.165. Tổng số đảng viên 11.440/20.626 đạt tỷ lệ 55,46 % (tăng 2,12%).
Tỷ lệ giáo viên/lớp đảm bảo theo quy định, bậc Mầm non đã đạt 2,1 giáo viên/lớp; Tiểu học đạt 1,44; THCS 2,1; THPT đạt 2,23; các trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên cấp huyện được bố trí bình quân từ 11 giáo viên văn hoá, có đủ 08 môn cơ bản, 01 giáo viên tin học và từ 1 đến 2 giáo viên dạy nghề, hướng nghiệp. Trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn có 144 CBQL, GV. Đến nay trên 72% giáo viên các cấp học trên toàn tỉnh đạt chuẩn trình độ đào tạo trở lên (giảm 20,56% so với năm 2011 do áp dụng chuẩn trình độ đào tạo mới theo quy định của Luật Giáo dục 2019); Về trình độ đào tạo, có 80,1% số nhà giáo đạt chuẩn trở lên hoặc đang tham gia đào tạo để đạt chuẩn theo Luật Giáo dục năm 2019, trong đó có 65,12% số nhà giáo đạt chuẩn, 14,98% trên chuẩn trình độ đào tạo; tỷ lệ nhà giáo chưa đạt chuẩn chiếm 19,90%(trong đó chưa đạt chuẩn ở từng cấp học: mầm non là 7,09%, tiểu học là 24,91%, THCS là 27,87%); riêng đối với cán bộ quản lý có 90,69% có trình độ đào tạo từ cao đẳng trở lên đối với cấp mầm non, từ cử nhân trở lên đối với cấp TH, THCS và THPT.
Tỷ lệ đánh giá theo chuẩn nghề nghiệp đạt từ loại khá trở lên đối với giáo viên cấp mầm non đạt 90,03%, tiểu học đạt 91,57%, THCS đạt 93,47%, THPT đạt 97,55%; đối với CBQL giáo dục cấp mầm non đạt 93,6%, tiểu học đạt 92,83%, THCS đạt 90,53%, THPT đạt 97,86%; 92,03% có năng lực tin học và 73,40% có năng lực ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.
3. Đánh giá khái quát thực trạng cơ sở vật chất trường, lớp học
3.1. Cơ sở vật chất
Hệ thống cơ sở vật chất trường mầm non và phổ thông công lập trên địa bàn tỉnh tính đến tháng 12 năm 2021, gồm có:
3.1.1. Khối phòng học
Tổng số phòng học hiện có 7.873 phòng. Trong đó: Phòng kiên cố có 6.223 phòng chiếm 79,04%; phòng bán kiên cố có 1.403 phòng chiếm 17,82%; phòng tạm có 247 phòng chiếm 3,14%. So với quy mô giáo dục hiện tại số phòng học cơ bản đáp ứng đủ 01 phòng/01 lớp để học 02 buổi /ngày. Tuy nhiên có sự thừa, thiếu cục bộ và khác nhau giữa các cấp học, giữa các trường, điểm trường và giữa các địa phương. Một số trường còn thiếu phòng học phải học nhờ phòng học của trường phổ thông khác hoặc nhà văn hóa thôn.
3.1.2. Khối phòng học bộ môn
Tổng số phòng học bộ môn hiện có 1.379 phòng. Trong đó: Phòng kiên cố có 1.240 phòng chiếm 89,92%; phòng bán kiên cố có 104 phòng chiếm 7,54%; phòng tạm có 35 phòng chiếm 2,54%.
3.1.3. Khối phòng hỗ trợ học tập
Tổng số phòng hỗ trợ học tập hiện có 1.219 phòng. Trong đó: Phòng kiên cố có 868 phòng chiếm 71,21%; phòng bán kiên cố có 239 phòng chiếm 19,61%; phòng tạm có 112 phòng chiếm 9,19%.
3.1.4. Khối phòng hành chính quản trị và khối phụ trợ
Tổng số phòng hành chính quản trị và khối phụ trợ hiện có 4.157 phòng. Trong đó: Phòng kiên cố có 3.209 phòng chiếm 77,2%; phòng bán kiên cố có 734 phòng chiếm 17,66%; phòng tạm có 214 phòng chiếm 5,15%.
3.1.5. Khối phòng ở học sinh nội trú
Tổng số phòng ở cho học sinh nội trú hiện có 332 phòng. Trong đó: Phòng kiên cố có 305 phòng chiếm 91,87%; phòng bán kiên cố có 05 phòng chiếm 1,51%; phòng tạm có 22 phòng chiếm 6,63%.
3.1.6. Khối phòng phục vụ sinh hoạt
- Nhà bếp: Tổng số 671, trong đó nhà bếp kiên cố 220, nhà bếp bán kiên cố 289 và 162 bếp tạm.
- Nhà ăn: Tổng số có 72, trong đó nhà ăn kiên cố 34, bán kiên cố 31 và 7 tạm.
- Nhà vệ sinh học sinh: Tổng số có 2.621 trong đó kiên cố 1.850, bán kiên cố 647, và 124 tạm.
- Nhà vệ sinh giáo viên, nhân viên: Tổng số 758, trong đó đó kiên cố 568; bán kiên cố 151 và 39 tạm.
- Số công trình nước sạch: 695. - Nhà đa chức năng: 58.
- Diện tích đất đang sử dụng là 2.640.574m2.
Hiện có 806 trường và điểm trường đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
3.2. Trang thiết bị dạy học
Trang thiết bị dạy học tại các cơ sở giáo dục trong tỉnh hiện nay về cơ bản đáp ứng được yêu cầu dạy và học. Trong những năm vừa qua mặc dù đã nhận được sự quan tâm đầu tư từ ngân sách nhà nước, các địa phương và sự quan tâm đóng góp của các tổ chức xã hội, phụ huynh học sinh, nhưng vẫn còn một số khó khăn, hạn chế ảnh hưởng không nhỏ đến công tác dạy và học, cụ thể như sau:
Mức độ đáp ứng nhu cầu tối thiểu của Đồ dùng - Đồ chơi – Thiết bị dạy học (sau đây gọi chung là TBDH) tối thiểu theo các quy định hiện hành còn thấp.
Với mô hình học tập theo nhóm ở cấp giáo dục phổ thông hiện nay, số lượng bàn ghế 2 chỗ còn ít và chưa đáp ứng được nhu cầu tối thiểu. Tại nhiều đơn vị điều kiện bàn ghế còn nhiều khó khăn, đa phần các em học sinh đều phải sử dụng bàn ghế không đạt chuẩn hoặc bàn ghế có 4 chỗ ngồi kiểu cũ.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin (CNTT), Cơ sở vật chất (CSVC) về CNTT của các cơ sở giáo dục phổ thông đã được từng bước tăng cường, hầu hết các trường đều được đầu tư, trang bị máy tính, máy chiếu phục vụ công tác giảng dạy và học tập.
Hiện tại số bộ thiết bị dạy và học ngoại ngữ của các trường Tiểu học (TH), Trung học cơ sở (THCS) và Trung học phổ thông (THPT) chủ yếu là những thiết bị cầm tay, đơn chiếc phục vụ cho việc dạy của giáo viên, các hệ thống thiết bị dạy ngoại ngữ chuyên dùng còn ít.
II. Kết quả thực hiện xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia
1. Công tác tham mưu, chỉ đạo, lập kế hoạch, triển khai, tổ chức thực hiện xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia; tổ chức tuyên truyền; việc ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn để triển khai, thực hiện.
1.1. Công tác tham mưu
Sở Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) đã chủ động, tích cực tham mưu cho Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh ban hành hệ thống văn bản chỉ đạo gồm các Chỉ thị, Nghị quyết, kế hoạch nhằm thực hiện hiệu quả công tác xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia (Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015-2020 và nhiệm kỳ 2021-2025; Quyết định số 76/QĐ-UBND ngày 20/01/2011 của UBND tỉnh Phê duyệt quy hoạch phát triển giáo dục tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011-2020; Quyết định số 697/QĐ-UBND, ngày 23/5/2013 của UBND tỉnh Kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn; Quyết định số 142/QĐ-UBND ngày 25/01/2017 của UBND tỉnh về Phê duyệt Đề án Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia cho trường học thuộc các xã xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2017-2020; Kế hoạch số 33/KH-UBND ngày 11/3/2015 về thực hiện Đề án Kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2014-2015 và lộ trình đến năm 2020 tỉnh Lạng Sơn; Kế hoạch số 231/KH-SGDĐT ngày 31/01/2019 của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lạng Sơn về Triển khai Chương trình mục tiêu giáo dục vùng núi, vùng dân tộc thiểu số,vùng khó khăn giai đoạn 2016-2020. (UBND tỉnh giao lập kế hoạch và dự toán thực hiện Chương trình, trực tiếp gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Công văn số 268/VP-KTTH ngày 21/01/2019); Kế hoạch số 68/KH-UBND ngày 10/4/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn về Kế hoạch thực hiện Đề án bảo đảm cơ sở vật chất cho chương trình giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông giai đoạn 2017-2020 tỉnh Lạng Sơn; Quyết định số 1623/QĐ-UBND, ngày 31/8/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn về việc thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án Kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2017-2020; Quyết định số 277/QĐ-UBND ngày 31/01/2019 của UBND tỉnh Lạng Sơn về việc thành lập Ban Chỉ đạo, cơ chế điều hành và danh mục các dự án trọng điểm năm 2019; Quyết định số 171/QĐ-BCĐ ngày 25/12/2017 của Trưởng Ban chỉ đạo Đề án kiên cố hóa trường lớp học về việc phân công nhiệm vụ các thành viên Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án Kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2017-2020).
Hằng năm Sở GDĐT đều tiến hành tổ chức đánh giá việc thực hiện công tác xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia. Đồng thời trên cơ sở đó tham mưu cho UBND tỉnh ban hành kế hoạch Kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận trường học đạt chuẩn quốc gia của từng năm. Cụ thể: Kế hoạch số 19/KH-UBND ngày 22/01/2019 của UBND tỉnh về công tác Kiểm định chất lượng giáo dục và xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia năm 2019; Kế hoạch số 05/KH-UBND ngày 13/01/2020 của UBND tỉnh về công tác Kiểm định chất lượng giáo dục và xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia năm 2020; Kế hoạch số 10/KH-UBND ngày 11/01/2021 của UBND tỉnh về công tác Kiểm định chất lượng giáo dục và xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia năm 2021.
1.2. Công tác chỉ đạo, lập kế hoạch, tuyên truyền, triển khai, tổ chức thực hiện xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia
Căn cứ các văn bản hướng dẫn của Bộ GDĐT ngay từ đầu năm học và hằng năm, Sở GDĐT đã ban hành các văn bản, kế hoạch để chỉ đạo các đơn vị thực hiện kịp thời, đầy đủ công tác kiểm định chất lượng giáo dục (KĐCLGD) và công nhận trường học đạt chuẩn quốc gia.
Chỉ đạo các nhà trường thực hiện tốt quy trình KĐCLGD và xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia bảo đảm chất lượng, đáp ứng yêu cầu. Chủ trì tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho các đơn vị, cá nhân thực hiện công tác tự đánh giá và đánh giá ngoài. Giám sát, chỉ đạo các nhà trường thực hiện kế hoạch cải tiến chất lượng để không ngừng duy trì và nâng cao chất lượng trường học đạt chuẩn quốc gia.
Tổ chức tập huấn nghiệp vụ tự đánh giá, đánh giá ngoài đối với lãnh đạo, chuyên viên phòng giáo dục và đào tạo các huyện, thành phố, các cơ sở giáo dục thuộc cấp học Mầm non, Tiểu học, THCS, lãnh đạo, giáo viên cốt cán các trường trung học phổ thông. Sở GDĐT đã rà soát đối với các phòng GDĐT, các đơn vị trực thuộc về việc đăng ký công nhận mới và công nhận lại trường học đạt chuẩn quốc gia, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch KĐCLGD và công nhận trường học đạt chuẩn quốc gia theo từng năm.
Phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành liên quan thành lập đoàn kiểm tra công tác KĐCLGD và công nhận đạt chuẩn quốc gia đảm bảo tiến độ có chất lượng và hiệu quả. Trên cơ sở đó ban hành các Quyết định công nhận trường học đạt KĐCLGD và trình UBND tỉnh ban hành Quyết định công nhận trường học đạt chuẩn quốc gia theo đúng thời gian quy định.
Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các nhiệm vụ, kịp thời điều chỉnh và đưa ra các giải pháp phù hợp với thực tế, bảo đảm thực hiện có hiệu quả các mục tiêu. Tổ chức, kiểm tra, đánh giá, tổng hợp kết quả thực hiện, báo cáo kịp thời.
Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, hành động, tinh thần trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể và các tầng lớp Nhân dân về chủ trương, mục đích, ý nghĩa của công tác kiểm định chất lượng giáo dục và xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia. Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền trên cổng thông tin điện tử và các phương tiện thông tin đại chúng, tạo sự đồng thuận, ủng hộ của toàn xã hội đối với công tác kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận trường học đạt chuẩn quốc gia gắn với Chương trình xây dựng nông thôn mới. Đồng thời tuyên tuyền và nâng cao nhận thức về việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông.
2. Kết quả xây dựng trường học đạtchuẩn quốc gia trên địa bàn tỉnh
2.1. Kế hoạch, kết quả xây dựng trường học đạtchuẩn quốc gia các cấp học giai đoạn 2018 – 2021 trên địa bàn tỉnh.
Hằng năm Sở GDĐT đều đưa vào kế hoạch phấn đấu xây dựng được 15 trường học đạt chuẩn quốc gia. Qua quá trình thực hiện từ năm 2018 đến năm 2021 chỉ tiêu này đều đạt và vượt kế hoạch đề ra. Cụ thể: Năm 2018 nâng tổng số đạt chuẩn quốc gia từ 177 trường lên 195 trường (Công nhận mới được 18 trường và tăng 03 trường so với kế hoạch). Năm 2019 tổng số trường đạt chuẩn quốc gia là 214 (Công nhận mới được 19 trường và tăng 04 trường so với kế hoạch). Năm 2020 tổng số trường đạt chuẩn quốc gia là 232 (Công nhận mới được 22 trường và tăng 07 trường so với kế hoạch). Năm 2021 tổng số trường đạt chuẩn quốc gia là 252 (Công nhận mới được 20 trường và đạt chỉ tiêu so với kế hoạch).
So với Kế hoạch đã tham mưu cho UBND tỉnh về việc công nhận mới và công nhận lại trường học đạt chuẩn quốc gia hằng năm đều đạt và vượt kế hoạch đề ra.
2.2. Kết quả thực hiện các tiêu chuẩn, tiêu chí theo từng mức độ đối với các bậc học, cấp học (Tiêu chuẩn về tổ chức và quản lý nhà trường; về cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh; về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học; về quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội, về hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục).
2.2.1. Về tổ chức và quản lý nhà trường
Hằng năm, Sở GĐĐT đều có hướng dẫn các cơ sở giáo dục thực hiện các nhiệm vụ năm học. Theo đó, các cơ sở giáo dục đều nghiêm túc triển khai các quy định của Bộ GDĐT, của Sở GDĐT về tổ chức và quản lý nhà trường.
Các đơn vị trường học đều tham mưu, trình cấp quản lý phê duyệt thành lập, kiện toàn Hội đồng trường đảm bảo đúng quy định tại Điều lệ trường học của cấp học. Các đơn vị trường học đều có chi bộ đảng và các tổ chức đảm bảo hoạt động đúng quy định. Biên chế lớp học đáp ứng yêu cầu tại mỗi cấp học, số đơn vị trường giảm dần theo từng năm do sáp nhập trường. Đội ngũ cán bộ quản lý (CBQL) trường học được bổ nhiệm, điều động đúng quy định. Tuy nhiên, còn có một số đơn vị vẫn chưa đủ CBQL theo quy định. Nguyên nhân là do chưa bổ nhiệm kịp thời CBQL thay thế số CBQL nghỉ hưu hằng năm, do công tác luân chuyển cán bộ và do CBQL xin chuyển công tác ra ngoài ngành.
2.2.2. Về cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh
CBQL các cơ sở giáo dục được bổ sung về số lượng dần đảm bảo quy định và tăng cường năng lực chuyên môn hằng năm, đáp ứng yêu cầu quản lý trường học. Năm 2018, số CBQL đều đạt chuẩn trình độ đào tạo theo từng cấp học, tuy nhiên đến năm 2021, do thay đổi cách tính chuẩn trình độ đào tạo theo Luật GD 2019 nên một số CBQL không còn đạt chuẩn trình độ đào tạo. CBQL chưa đạt chuẩn trình độ đào tạo được cử đi đào tạo nâng chuẩn (nếu thuộc diện phải nâng chuẩn). Việc bổ nhiệm CBQL được thực hiện theo đúng quy định. Đối với CBQL bổ nhiệm mới thì chỉ bổ nhiệm CBQL có đủ điều kiện theo chuẩn mới, đối với CBQL bổ nhiệm lại thực hiện theo quy định của Bộ GDĐT.
Giáo viên các cấp học được bổ sung hằng năm thông qua việc tiếp nhận và tuyển dụng trên cơ sở chỉ tiêu được giao. Số lượng, chất lượng và cơ cấu giáo viên cơ bản dần đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tuy nhiên, số giáo viên hằng năm vẫn thiếu nhiều. Khắc phục tình trạng thiếu GV, hằng năm Sở GDĐT và UBND các huyện/thành phố đăng ký chỉ tiêu hợp đồng giáo viên để đảm bảo có giáo viên thực hiện chương trình giáo dục phổ thông theo quy định. Ngoài ra, để khắc phục tình trạng thừa, thiếu cục bộ cơ cấu giáo viên, UBND các huyện/thành phố còn thực hiện phân công giáo viên dạy liên trường, Sở GDĐT đã trình và được UBND tỉnh cho phép liên kết đào tạo trình độ đại học văn bằng 2 hình thức vừa làm vừa học. Thực hiện lộ trình nâng chuẩn trình độ đào tạo, năm 2021, Sở GDĐT đã tham mưu cho UBND tỉnh cử giáo viên tham gia đào tạo nâng chuẩn, liên thông trình độ cao đẳng lên trình độ đại học là 360 Nhà giáo và CBQL giáo dục.
Đội ngũ nhân viên trường học hầu hết đều thiếu so với định mức quy định. Một số đơn vị trường học gặp khó khăn khi không có nhân viên Kế toán và Y tế. Hằng năm, để khắc phụ tình trạng thiếu nhân viên Kế toán và Y tế, UBND các huyện/thành phố thực hiện giao kiêm nhiệm liên trường, hợp đồng với Trung tâm y tế xã trong việc chăm sóc sức khỏe ban đầu cho học sinh. Năm 2021, Bộ GDĐT đã có hướng dẫn tuyển dụng lại nhân viên Kế toán, Y tế trường học nên đã phần nào tháo gỡ được khó khăn cho các cơ sở giáo dục.
Học sinh của các cấp học, bậc học Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông qua các năm về cơ bản thực hiện đúngđộ tuổi đi học, các nhiệm vụ và được đảm bảo các quyền theo quy định. Học sinh vi phạm các hành vi không được làm được phát hiện kịp thời, được áp dụng các biện pháp giáo dục phù hợp và có chuyển biến tích cực.Học sinh có thành tích trong học tập, rèn luyện có ảnh hưởng tích cực đến các hoạt động của lớp và nhà trường.
2.2.3. Về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học
Đánh giá chung về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học: đa số đơn vị đảm bảo nhà trường có cổng trường, biển trường theo quy định. Chú trọng tới khu sân chơi, bãi tập của học sinh, cảnh quan chung của nhà trường đảm bảo xanh, sạch, đẹp, an toàn và phù hợp với điều kiện của nhà trường. Quản lý khối lớp học, khu quản trị hành chính, khu vực vệ sinh, hệ thống cấp thoát nước đảm bảo phục vụ tốt cho hoạt động dạy và học. Đồng thời các đơn vị thường xuyên rà soát về cơ sở vật chất, trang thiết bị và thư viện của nhà trường để có kế hoạch bổ sung, sửa chữa kịp thời, đáp ứng theo các tiêu chí của trường chuẩn quốc gia. Tuy nhiên do nguồn kinh phí được cấp và nguồn xã hội hóa chưa được nhiều nên việc trang bị cơ sở vật chất và thiết bị dạy học cho các cơ sở giáo dục còn gặp rất nhiều khó khăn (chỉ đề cập đến những trường đã được đưa vào lộ trình thực hiện công nhận đạt chuẩn quốc gia). Cụ thể về cơ bản do thiếu cơ sở vật chất và thiết bị dạy học mà số trường đến thời hạn công nhận lại đạt chuẩn quốc gia nhưng vẫn chưa đủ điều kiện để công nhận tăng dần qua các năm: Năm 2018 có 26/195 trường, năm 2019 có 33/214 trường, năm 2020 có 35/232 trường và năm 2021 có 51/252 trường.
2.2.4. Về Quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội
Qua kiểm tra, đánh giá đa số các nhà trường đã thường xuyên quan tâm và phối hợp chặt chẽ và hiệu quả với Ban đại diện cha mẹ học sinh trong các hoạt động. Tham mưu cấp ủy đảng, chính quyền và phối hợp với các tổ chức, cá nhân của nhà trường đảm bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ chung của nhà trường. Huy động Ban đại diện cha mẹ học sinh tham gia các hoạt động giáo dục toàn diện học sinh và kêu gọi tài trợ giáo dục để tăng cường xây dựng cơ sở vật chất nhà trường, động viên khen thưởng các phong trào thi đua dạy tốt, học tốt. Thực hiện dân chủ hóa trong trường học, công khai tài chính, tham mưu các cấp, các ngành địa phương thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước chăm lo cho sự nghiệp phát triển giáo dục. Tuy nhiên còn một số nhà trường cũng chưa thực sự thực hiện tốt công tác về mố quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội.
2.2.5. Về hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục
Sở GDĐT đã chỉ đạo các nhà trường thực hiện chương trình giáo dục và tổ chức hoạt động giáo dục cho học sinh đảm bảo chất lượng, hiệu quả. Thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chuyên môn, đổi mới hình thức sinh hoạt chuyên môn. Quan tâm bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp, phụ đạo học sinh yếu, nhằm nâng cao tỉ lệ học sinh giỏi, giảm tỉ lệ học sinh yếu kém. Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh phù hợp với đối tượng và đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Thường xuyên bám sát các hoạt động giáo dục trong nhà trường, trên cơ sở đó chỉ đạo, điều chỉnh kịp thời và phù hợp với điều kiện của trường nhằm đạt được kết quả đã đề ra trong năm học đồng thời đáp ứng được các tiêu chí về trường học đạt chuẩn quốc gia.
Hoàng Thanh Long - Phòng Quản lý chất lượng