ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ
MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Phòng GDTrH, Sở GDĐT
Ngữ văn là môn học mang tính công cụ và tính thẩm mĩ - nhân văn; giúp học sinh có phương tiện giao tiếp, làm cơ sở để học tập tất cả các môn học và hoạt động giáo dục khác trong nhà trường; đồng thời cũng là công cụ quan trọng để giáo dục học sinh những giá trị cao đẹp về văn hóa, văn học và ngôn ngữ dân tộc; phát triển ở học sinh những cảm xúc lành mạnh, tình cảm nhân văn, lối sống nhân ái, vị tha,...
Thông qua các văn bản ngôn từ và những hình tượng nghệ thuật sinh động trong các tác phẩm văn học, bằng hoạt động đọc, viết, nói và nghe, môn Ngữ văn có vai trò to lớn trong việc giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp cũng như các năng lực cốt lõi để sống và làm việc hiệu quả, để học suốt đời.
Nội dung môn Ngữ văn mang tính tổng hợp, bao gồm cả tri thức văn hoá, đạo đức, triết học,... liên quan tới nhiều môn học và hoạt động giáo dục khác như Lịch sử, Địa lí, Nghệ thuật, Giáo dục công dân, Ngoại ngữ, Tự nhiên và Xã hội, Hoạt động trải nghiệm, Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp,… Môn Ngữ văn cũng liên quan mật thiết với cuộc sống; giúp học sinh biết quan tâm, gắn bó hơn với đời sống thường nhật, biết liên hệ và có kĩ năng giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn. Nội dung cốt lõi của môn học bao gồm các mạch kiến thức và kĩ năng cơ bản, thiết yếu về tiếng Việt và văn học, đáp ứng các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh ở từng cấp học; được phân chia theo hai giai đoạn: giai đoạn giáo dục cơ bản và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp.
Đổi mới dạy học nói chung và đổi mới dạy học môn Ngữ văn nói riêng là yêu cầu bắt buộc, cấp bách và thiết thực trong lộ trình thực hiện Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Quá trình đổi mới chỉ thành công và thật sự khi thực hiện đồng bộ đổi mới từ mục tiêu, nội dung đến phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá. Trong tiến trình thực hiện chương trình giáo dục phổ thông năm 2018, bộ Giáo Dục đã thể hiện rất rõ quyết tâm đổi mới. Đặc biệt, đối với môn Ngữ văn, ngày 21 tháng 7, bộ GD ra công văn số 3175/BGDĐT –GDTrH về việc hướng dẫn đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn ở trường phổ thông, trong đó có những thay đổi quan trọng mang tính đột phá:
1. Đổi mới cách dạy và cách học môn Ngữ văn
a) Tăng cường hơn nữa việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập môn Ngữ văn; dành nhiều thời gian cho các hoạt động thực hành, vận dụng, trình bày, thảo luận để rèn luyện kĩ năng đọc, viết, nói, nghe và cảm thụ thẩm mĩ theo yêu cầu, mức độ với từng lớp học, cấp học. Trong quá trình dạy học, giáo viên cần giao nhiệm vụ học tập rõ ràng, phù hợp với khả năng của học sinh; nêu cụ thể các yêu cầu về sản phẩm mà học sinh phải hoàn thành; chú trọng kiểm tra, đánh giá, hỗ trợ, động viên học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập.
b) Xây dựng kế hoạch bài dạy và tổ chức dạy học môn Ngữ văn theo hướng tăng cường rèn luyện cho học sinh phương pháp đọc, viết, nói và nghe; thực hành, trải nghiệm tiếp nhận và vận dụng kiến thức tiếng Việt, văn học thông qua các hoạt động học ở trong và ngoài lớp học.
- Đối với dạy đọc: Xác định rõ mục đích giúp học sinh biết cách đọc và tự đọc hiểu được văn bản; thông qua đó hình thành phẩm chất, nhân cách học sinh. Coi ngữ liệu là phương tiện và việc tìm hiểu ngữ liệu là cách thức để hình thành, phát triển năng lực đọc hiểu văn bản. Bên cạnh việc giúp học sinh hiểu được nội dung và hình thức của văn bản, cần chú ý trang bị cho học sinh công cụ, cách thức để đọc hiểu các văn bản cùng thể loại hoặc loại hình với văn bản được học. Giáo viên có thể đưa ra những gợi ý, chỉ dẫn để giúp học sinh đọc nhưng không lấy việc phân tích, bình giảng của mình để áp đặt hay thay thế cho những suy nghĩ của học sinh; tránh đọc chép và yêu cầu học sinh ghi nhớ kiến thức một cách máy móc. Gắn dạy đọc với các hoạt động dạy viết, nói, nghe, thực hành tiếng Việt và các hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp phù hợp với từng lớp học, cấp học.
- Đối với dạy viết: Chú trọng yêu cầu học sinh hình thành ý tưởng, biết cách trình bày ý tưởng một cách mạch lạc, sáng tạo, có sức thuyết phục để qua đó rèn luyện tư duy và cách viết các kiểu văn bản. Tập trung vào yêu cầu hướng dẫn học sinh thực hiện các bước tạo lập văn bản. Ở mỗi bước, giáo viên có thể sử dụng, khai thác ngữ liệu minh họa một cách hợp lý giúp học sinh hiểu được đặc điểm hình thức, ngôn ngữ, phương thức biểu đạt của từng kiểu văn bản; từ đó, giúp học sinh hình thành kĩ năng viết của mình. Xây dựng và tăng cường sử dụng các bài tập dạy viết gắn với các tình huống thực tiễn và giả định để học sinh nhận thức được mối quan hệ giữa yêu cầu học viết trong nhà trường với nhu cầu tạo lập các sản phẩm viết trong đời sống.
2. Đổi mới cách đánh giá học sinh trong môn Ngữ văn
a) Việc đánh giá học sinh trong môn Ngữ văn cần đảm bảo nguyên tắc phát huy được những mặt tích cực của cá tính, trí tưởng tượng, năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học, năng lực tư duy hình tượng và tư duy logic của học sinh.
b) Tập trung thiết kế và sử dụng các câu hỏi, bài tập yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức đã học và kĩ năng đọc, viết, nói, nghe vào bối cảnh và ngữ liệu mới; tạo cơ hội để học sinh khám phá những tri thức mới, đề xuất ý tưởng và tạo ra sản phẩm mới; gợi mở những liên tưởng, tưởng tượng, huy động được vốn sống vào quá trình đọc, viết, nói, nghe.
c) Trong đánh giá kết quả học tập cuối học kì, cuối năm học, cuối cấp học, tránh dùng lại các văn bản đã học trong sách giáo khoa làm ngữ liệu xây dựng các đề kiểm tra đọc hiểu và viết để đánh giá chính xác năng lực học sinh, khắc phục tình trạng học sinh chỉ học thuộc bài hoặc sao chép nội dung tài liệu có sẵn.
d) Khuyến khích việc xây dựng và sử dụng các đề mở trong kiểm tra, đánh giá để phát huy cao nhất khả năng sáng tạo của học sinh. Xây dựng bộ công cụ đánh giá để hạn chế tính chủ quan, cảm tính của người chấm. Khi nhận xét, đánh giá các sản phẩm của học sinh, cần tôn trọng và khuyến khích cách nghĩ, cách cảm riêng của học sinh trên nguyên tắc không vi phạm những chuẩn mực đạo đức, văn hóa và pháp luật.
Thực tế đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn tỉnh Lạng Sơn gặp một số khó khăn sau:
- Việc đổi mới phương pháp dạy học còn có độ vênh nhất định với nội dung kiểm tra đánh giá. Dạy học phát triển năng lực nhưng kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức kĩ năng. Để duy trì, nâng cao chất lượng phổ điểm thi Tốt nghiệp thì giáo viên vẫn phải sử dụng phương pháp dạy học truyền thống để giúp học sinh tiếp cận văn bản nên việc đổi mới phương pháp dạy học chưa thực chất.
- Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở một số trường học còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới đặc biệt là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học, kiểm tra đánh giá. Không gian học tập của học sinh vẫn chủ yếu trong lớp học, việc đưa nội dung học tập ra ngoài nhà trường còn hạn chế.
- Nội dung kiến thức trong chương trình hiện hành còn nặng, nhiều nội dung mang tính hàn lâm gây khó khăn cho giáo viên khi truyền đạt kiến thức cho học sinh.
- Khả năng tự học của học sinh còn hạn chế. Yêu cầu của đổi mới PPDH là phát huy năng lực tự học của học sinh. Tuy nhiên nhiều học sinh ngại, lười tự học, tâm lí phụ thuộc vào thầy cô, ỷ lại vào các bạn trong hoạt động nhóm. Nhiều học sinh còn rụt rè khi trình bày ý kiến, trao đổi, thảo luận…hiệu quả của giờ học chưa cao.
Để khắc phụ hiện trạng này giáo viên có thể áo dụng các phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá sau:
Thứ nhất: Tổ chức giờ học văn theo hướng phát huy tối đa sự sáng tạo của thầy và trò
Cần tạo ra những khả năng mở, những cơ chế thông thoáng để thầy và trò tự do sáng tạo. Đôi khi, trong một tiết dạy, thầy chỉ cần hướng dẫn học sinh tìm hiểu thật sâu một hay hai vấn đề quan trọng, phần còn lại có thể để các em tự tìm hiểu. Thậm chí có thể bỏ qua những kiến thức trong sách giáo khoa để dành thời gian cho những kiến thức nâng cao hơn. Người thầy phải tùy cơ ứng biến trước những đối tượng học sinh khác nhau, phải linh hoạt sáng tạo, bỏ qua những gì là hình thức không cần thiết thì mới có thể tạo ra được sự hấp dẫn, lôi cuốn trong giờ dạy. Những giờ học không câu nệ tiểu tiết như thế được xem là những “giờ học mở”. Một “giờ học mở” không thể là một giờ học mà quan hệ thầy - trò là quan hệ một chiều theo kiểu thầy độc quyền thuyết giảng kiến thức còn học sinh thì lắng nghe và tiếp thu một cách thụ động. Trái lại, một “giờ học mở” phải là một giờ học lấy học sinh làm trung tâm, học sinh có quyền trao đổi, thậm chí có những ý kiến phản biện lại những điều thầy giáo trình bày. Theo đó, mỗi “giờ học mở” là một diễn đàn học thuật để thầy và trò cùng nhau thảo luận, bàn bạc, tranh luận một cách cởi mở, thẳng thắn cho đến khi tìm ra chân lí. “Giờ học mở” còn là giờ học không kết thúc ở 45 phút theo quy định mà mở ra cho học sinh vô vàn cơ hội tự học. Điều này rất cần thiết cho các lớp năng khiếu, chuyên sâu. Quan trọng không phải là dạy cái gì mà là có cung cấp được cho học sinh phương pháp tự học không. Đây là điều cần hướng đến để có thể đáp ứng được yêu cầu giáo dục trong thời đại năng động hiện nay có thể được tiến hành thông qua một số phương pháp cụ thể dưới đây:
Tổ chức thuyết trình theo nhóm
Tổ chức lớp thành những nhóm học tập. Giao cho mỗi nhóm một hoặc một số vấn đề (thuộc kiến thức trọng tâm của bài học), yêu cầu mỗi nhóm tổ chức bàn bạc, thảo luận ở nhà sau đó thống nhất viết thành bài thuyết trình chung cho cả nhóm. Giờ học trên lớp, mỗi nhóm cử một đại diện trình bày bài thuyết trình trước lớp. Thầy tổ chức cho lớp thảo luận, tranh luận xung quanh vấn đề được trình bày và chốt lại những kiến thức cơ bản nhất. Ví dục với chuyên đề “Các nhà thơ Mới tiêu biểu trong phong trào Thơ Mới 1932 – 1945”. Chuyên đề này được chia thành 5 tiết, giáo viên có thể chia lớp thành 4 nhóm, dành cho mỗi nhóm một tiết để thuyết trình về một nhà thơ trong số 4 nhà thơ Mới có tác phẩm được chọn giảng trong chương trình: Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính. Tiết học thứ 5, giáo viên chốt lại những vấn đề cơ bản nhất và định hướng cho học sinh những kiến thức nâng cao hơn. Đề tài thuyết trình được giao cho mỗi nhóm trước đó một tuần, thầy giáo hướng dẫn đồng thời yêu cầu mỗi nhóm phải tập trung lại để bàn bạc, thảo luận, phát huy trí tuệ tập thể để viết thành bài thuyết trình chung. Giờ học trên lớp, mỗi nhóm cử đại diện trình bày, giáo viên định hướng để các thành viên khác trong lớp phát biểu ý kiến trao đổi, bàn bạc xung quanh vấn đề đặt ra. Thông qua thảo luận, tranh luận, học sinh đã phát hiện ra những điều rất sâu sắc và thú vị.
Thực tế cho thấy rằng, phương pháp “Tổ chức thuyết trình theo nhóm” đem lại cho học sinh một cách tiếp cận kiến thức mới lạ và đầy hứng thú. Thông qua thảo luận, các em sẽ được tiếp nhận thông tin đa chiều, mở mang nhiều tri thức mới từ trí tuệ tập thể, điều mà các em không thể có được nếu làm việc một mình. Hơn nữa, thông qua trình bày, thảo luận phương pháp này sẽ rèn luyện được cho học sinh những kĩ năng rất cần thiết cho cuộc sống hiện đại như: Kĩ năng trình bày một vấn đề, kĩ năng nói trước đám đông, kĩ năng làm việc nhóm
Tổ chức giờ dạy - học theo mô hình “Chương trình phỏng vấn chuyên gia”
Giao vấn đề (thuộc kiến thức trọng tâm của bài học), yêu cầu học sinh chuẩn bị kĩ lưỡng ở nhà. Giờ học trên lớp, giáo viên tổ chức lớp thành một diễn đàn đối thoại, cử ra một học sinh làm phóng viên, một học sinh khác làm chuyên gia (hoặc thầy giáo làm chuyên gia) để phóng viên phỏng vấn chuyên gia về những vấn đề xoay quanh bài học. Tất cả những học sinh khác tham gia với tư cách là người đối thoại với chuyên gia. Theo đó, giờ học sẽ trở thành một môi trường để thầy và trò tham gia thảo luận về bài học. Việc áp dụng mô hình dạy học này có ý nghĩa rất lớn trong việc mở ra một môi trường học tập thật sự cởi mở để học sinh có thể tiếp thu kiến thức một cách hết sức thoải mái, chủ động và tích cực. Khoảng cách trong quan hệ thầy – trò thông qua cách học này cũng sẽ được rút ngắn, trở nên vô cùng gần gũi, thân thiết. Sẽ không còn tồn tại quan hệ một chiều theo kiểu thầy độc quyền thuyết giảng – trò răm rắp nghe theo mà sẽ mở ra một quan hệ mới: quan hệ đối thoại. Trong quan hệ ấy, không chỉ trò học thầy mà thầy cũng phải học trò.
Tổ chức giờ học tranh luận
Đối với một số tiết, đặc biệt là những tiết dạy kĩ năng làm văn, có thể áp dụng hình thức tổ chức này. Thầy đưa ra những đề văn mở có thể tạo ra những hướng lựa chọn khác nhau như “Chợ quê hay siêu thị”, “Thành phố hay nông thôn”, “Nữ sinh nên mặc áo dài truyền thống hay trang phục hiện đại đến trường”, “Giả sử bạn tham gia vào cuộc tranh luận giữa nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh, hãy trình bày quan điểm của mình. Chia lớp thành hai nhóm, mỗi nhóm theo một hướng lựa chọn và tranh luận với nhóm kia để bảo vệ quan điểm của mình. Từ những trải nghiệm trên thực tế giảng dạy trong những năm qua, người viết nhận ra rằng việc áp dụng hình thức dạy học theo kiểu tổ chức cho học sinh tranh luận tạo nên một sự hứng thú rất lớn cho học sinh. Thông qua tranh luận trong những giờ học, học sinh được thể hiện quan điểm của bản thân, được trình bày những suy nghĩ thực của mình đồng thời đưa ra lập luận để bảo vệ quan điểm ấy mà không chịu ràng buộc, phụ thuộc vào bất cứ một khuôn mẫu, một mô hình nào. Theo đó, những giờ học được tổ chức theo kiểu tranh luận sẽ là những giờ học vô cùng tích cực, sôi nổi; phát huy được tình chủ động, sáng tạo trong tư duy học sinh. Đồng thời nó góp phần định hướng, rèn luyện cho học sinh những khả năng quan trọng: khả năng lập luận, khả năng tranh biện, khả năng bảo vệ chính kiến…
Thứ hai: Đổi mới cách ra đề văn theo định hướng phát triển năng lực học sinh
Yêu cầu bức thiết đặt ra là phải đổi mới cách ra đề văn theo định hướng phát triển năng lực, tôn trọng tiếng nói cá nhân, truyền cảm hứng sáng tạo và khơi gợi sự độc lập tư duy cho học sinh. Phải tiến tới một cách ra đề như thế nào để mỗi bài văn các em viết ra phải là sản phẩm của chính các em chứ không phải là một sự sao chép gần như nguyên vẹn những điều thầy cô giáo đã dạy hay được chép trong sách mẫu. Đó là những đề văn vượt khỏi lối mòn, chệch ra ngoài khuôn khổ, đem đến cho học sinh cơ hội thể hiện năng lực như: “Nếu chỉ còn một ngày để sống”, “Nếu được tham gia tranh luận trong diễn đàn: nước Việt Nam nhỏ hay không nhỏ, bạn hãy thể hiện quan điểm của mình”, “Nghĩ về những nếp nhăn trên trán mẹ”, “Nghĩ về điều kì diệu của tình thương”, “ Vì sao tôi sống?”, “Có phải cứng quá thì gãy?”, “Văn học với việc bồi dưỡng tâm hồn bạn?”, “Suy nghĩ về một ước mơ nhân dân gửi gắm trong truyện cổ tích”… Những cách hỏi như vậy sẽ bồi dưỡng, phát triển được sức nghĩ, sức viết của học sinh. Các em có thể tự do khám phá, sáng tạo; tự do thể hiện suy nghĩ, tâm tư, tình cảm của mình mà không phụ thuộc vào bất cứ ai và bất cứ điều gì. Tuy nhiên, với những đề văn như thế thì đáp án cũng phải hết sức linh hoạt. Không nên ràng buộc học sinh phải thể hiện được ý này, ý nọ; trái lại phải tạo ra một môi trường thực sự cởi mở, thông thoáng để các em tha hồ suy tư và sáng tạo. Miễn sao sự sáng tạo ấy hợp lí và có sức thuyết phục. Bản thân người chấm cũng phải tránh một cái nhìn máy móc, định kiến; phải tôn trọng tiếng nói cá nhân của mỗi học sinh, tránh áp đặt suy nghĩ của mình cho các em thì mới mong phát hiện được tài năng. Trên đây là những suy ngẫm của người viết xung quanh việc đổi mới phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn trong trường THPT. Tuy nhiên, sẽ không dễ dàng để thay đổi một thói quen, một nếp nghĩ đã ăn sâu trong tâm trí. Không phải một cá nhân nào đó muốn thay đổi là thay đổi được, cũng không phải hôm nay nói
thay đổi là ngày mai thay đổi được ngay. Cần phải có thời gian và đặc biệt là phải có sự thay đổi đồng bộ trong tư duy giáo dục của tất cả những đối tượng tham gia vào hoạt động giáo dục. Người dạy thay đổi cách dạy, người học thay đổi cách học và cả những nhà quản lí cũng phải đổi cách quản lí thì mới mong đạt được hiệu quả như mong muốn.