TIN NỔI BẬT
Chuyên đề GDĐT
Phòng GDTrH 9.030

LỰA CHỌN NGỮ LIỆU ĐỂ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ ĐỊNH KÌ MÔN NGỮ VĂN TỪ NĂM HỌC 2024-2025

Trong môn Ngữ văn, ngữ liệu là một bộ phận cấu thành của nội dung giáo dục, góp phần quan trọng trong việc hình thành, phát triển ở học sinh những phẩm chất và năng lực được nêu trong chương trình. Khác với CT Ngữ văn 2006, Chương trình Ngữ văn 2018 có định hướng mở về ngữ liệu: CT không quy định cụ thể các văn bản ngữ liệu như một nội dung dạy học bắt buộc đối với tất cả các lớp. Tuy vậy, để bảo đảm nội dung giáo dục cốt lõi, thống nhất trên cả nước, bên cạnh những văn bản gợi ý tác giả sách giáo khoa và giáo viên lựa chọn, Chương trình quy định một số văn bản bắt buộc (06 tác phẩm) và các văn bản bắt buộc lựa chọn; đồng thời quy định một số tiêu chí lựa chọn ngữ liệu. Trong nội dung dạy học của mỗi lớp, Chương trình chỉ nêu định hướng về các kiểu văn bản và thể loại được dạy ở từng lớp; riêng ở cấp tiểu học có quy định độ dài của văn bản.

Năm học 2024 – 2025, Chương trình GDPT 2018 sẽ được triển khai trên tất cả 12 lớp của các cấp học trong hệ thống giáo dục phổ thông. Trong các môn học của nhà trường phổ thông, môn Ngữ văn là môn học bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 12, và là một trong hai môn học bắt buộc của kì thi Trung học phổ thông quốc gia theo Chương trình 2018 sẽ được tổ chức lần đầu vào năm 2025.

Nhận thức tầm quan trọng của môn học Ngữ văn trong tiến trình đổi mới Chương trình GDPT, Bộ GD&ĐT đã có Công văn số 3175/BGDĐT-GDTrH ngày 21/07/2022 về hướng dẫn đổi mới PPDH và kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn ở trường PT, trong đó nhấn mạnh đến yêu cầu của Chương trình môn Ngữ văn 2018 về kiểm tra, đánh giá hướng đến mục tiêu đánh giá năng lực của người học, tránh tình trạng sao chép văn mẫu đang tồn tại trong những năm qua.

Công văn 3935/BGDĐT-GDTrH ngày 30/07/2024 của Bộ GD&ĐT về hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm học 2024-2025 cũng nêu rõ: Đối với môn Ngữ văn, tránh sử dụng những văn bản, đoạn trích đã được học trong sách giáo khoa để làm ngữ liệu kiểm tra đánh giá năng lực đọc hiểu và viết trong các đề kiểm tra định kì nhằm khắc phục tình trạng học sinh chỉ học thuộc bài hoặc sao chép nội dung tài liệu có sẵn.

Kiểm tra, đánh giá theo yêu cầu cần đạt của CT Ngữ văn 2018 là:

- Đánh giá phẩm chất trong môn Ngữ văn chủ yếu bằng định tính, thông qua quan sát, ghi chép, nhận xét về hành vi, cách ứng xử, các biểu hiện về thái độ, tình cảm của HS trong các mối quan hệ. Đồng thời, qua việc đọc hiểu, viết, nói và nghe từ các ngữ liệu, các vấn đề được đề cập, GV có thể đánh giá các phẩm chất của HS (yêu nước, nhân ái, trung thực, trách nhiệm).

- Đánh giá các năng lực chung và năng lực đặc thù của môn Ngữ văn cần kết hợp cả định tính và định lượng dựa trên yêu cầu cần đạt về đọc, viết, nói nghe trong Chương trình GDPT môn Ngữ văn 2018. Cụ thể:

+ Đánh giá kĩ năng đọc: cần tập trung vào yêu cầu đọc hiểu về nội dung (xác định đề tài, chủ đề của văn bản, quan điểm và ý tưởng của người viết,…); đọc hiểu hình thức (xác định các đặc điểm của VB về phương thức thể hiện, nhất là về mặt thể loại, loại văn bản và ngôn ngữ sử dụng, các biểu hiện cụ thể của từng kiểu loại VB văn học, VB nghị luận, VB thông tin,…); liên hệ, so sánh, kết nối (phân tích, nhận xét về giá trị và sự tác động của văn bản đối với bản thân, thể hiện cảm xúc đối với những vấn đề đặt ra trong văn bản, liên hệ giữa các văn bản với đời sống,..). Trả lời các câu hỏi theo những mức độ tư duy khác nhau (nhận biết, phân tích suy luận, đánh giá và vận dụng).

+ Đánh giá kỹ năng viết: cần tập trung vào yêu cầu tạo lập các kiểu loại văn bản được quy định theo từng lớp. Chú trọng đánh giá tiến trình tạo lập văn bản và các sản phẩm viết cụ thể. Việc đánh giá kỹ năng viết cần dựa và các tiêu chí chủ yếu như: nội dung triển khai, kết cấu bài viết, khả năng biểu đạt và lập luận, hình thức ngôn ngữ, trình bày.

+ Đánh giá kỹ năng nói và nghe: cần tập trung vào chủ đề và mục tiêu của HĐ nói và nghe theo hướng giao tiếp. Với kĩ năng nói, chú ý đến các ngữ cảnh nói và đối tượng người nghe, qua đó thể hiện sự tự tin của người nói khi trình bày, giới thiệu, thuyết phục người nghe; biết sử dụng các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ và phương tiện công nghệ hỗ trợ khi trình bày. Đối với kỹ năng nghe, cần chú ý đến yêu cầu nắm bắt nội dung do người khác nói; nắm bắt và đánh giá được quan điểm, ý định của người nói; biết đặt câu hỏi, nêu vấn đề, trao đổi để kiểm tra những thông tin chưa rõ; có thái độ nghe tích cực và tôn trọng người nói, biết lắng nghe và tôn trọng những ý kiến khác biệt. Bên cạnh đó cần chú ý đến kĩ năng nói và nghe tương tác (thông qua các hoạt động trao đổi, thảo luận, tranh luận, tranh biện).

+ Đánh giá năng lực chung: thông qua các hình thức và công cụ đánh giá (đánh giá cá nhân, đánh giá theo nhóm) để đánh giá các năng lực chung (tự học và tự chủ, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo) ngay trong quá trình tổ chức các hoạt động học tập.

Hoạt động ĐG nói chung và ĐG trong môn Ngữ văn thực hiện với các loại hình: ĐG thường xuyên, ĐG định kì, thi (chuyển cấp, cuối cấp).

Đánh giá thường xuyên được thực hiện trong suốt quá trình dạy học, thông qua kết quả trả lời những câu hỏi, qua ý kiến phát biểu, tranh luận, thảo luận của HV. Đánh giá thường xuyên do GV tổ chức, hình thức đánh giá gồm: GV đánh giá HV, HV đánh giá lẫn nhau, HV tự đánh giá. Để ĐG thường xuyên, GV có thể dựa trên quan sát và ghi chép hằng ngày về HS, việc HS trả lời câu hỏi hoặc thuyết trình làm bài kiểm tra, viết phân tích và phản hồi văn học, viết thu hoạch, làm dự án sưu tầm tư liệu, làm bài tập nghiên cứu,... Ngoài mục đích đánh giá kết quả học tập của HS, đánh giá thường xuyên có vai trò thúc đẩy quá trình học tập của HS, giúp GV có những điều chỉnh kịp thời trong các hoạt động dạy và học.

Đối với môn học Ngữ văn, theo tinh thần đổi mới hướng tới dạy "cách" học, việc đánh giá thường xuyên có thể góp phần kích hoạt tư duy và hứng thú của HS khi tham gia vào các nhiệm vụ học tập đọc, viết, nói và nghe; giúp HS từng bước tiếp nhận tri thức, hình thành và phát triển các kĩ năng và biết vận dụng có hiệu quả trong các tình huống thực tiễn. Do vậy, cần tổ chức HĐ đánh giá tại mọi thời điểm của quá trình dạy học, khai thác tốt nhất những nội dung, ngữ liệu trong SGK. Bên cạnh việc đánh giá các tri thức, kĩ năng mà HS đã hình thành trong quá trình học tập cần chú ý lồng ghép với những giá trị tự thân của các văn bản đọc, những vấn đề của cuộc sống kết nối từ văn bản và từ nội dung viết, nói và nghe, qua đó kết hợp đánh giá phẩm chất của người học. Theo các quy định và thực tế kiểm tra, đánh giá trong môn Ngữ văn, hoạt động đánh giá thường xuyên cần tập trung vào đánh giá kĩ năng đọc hiểu một số văn bản có giá trị, đại diện cho các loại, thể loại trong SGK theo từng lớp; đánh giá các bước của quy trình tạo lập các kiểu loại văn bản; đánh giá hoạt động nói và nghe.

Đánh giá định kì được diễn ra ở thời điểm giữa hoặc cuối một giai đoạn học tập (cuối kỳ, cuối năm) do cơ sở giáo dục thực hiện để phục vụ công tác quản lý hoạt động dạy học, bảo đảm chất lượng giáo dục và phục vụ công tác phát triển chương trình, tài liệu học tập. Đánh giá định kì nhằm cung cấp thông tin về kết quả học tập của HS so với mục tiêu giáo dục của mỗi giai đoạn. Nó là cơ sở để phân loại, lựa chọn HS, phân phối HS vào các chương trình kiểm tra thích hợp, được lên lớp hay thi lại, cấp chứng chỉ, văn bằng tốt nghiệp cho HV và đưa ra những nhận xét tổng hợp về toàn bộ quá trình học tập của HS... Đánh giá định kì góp phần vào việc cải thiện kết quả học tập của HS trong giai đoạn học tập được đánh giá và cung cấp thông tin làm cơ sở cho việc cải tiến giai đoạn học tập này trong tương lai, cho những lớp HS kế tiếp.

Đánh giá định kỳ trong môn Ngữ văn được thực hiện thông qua để kiểm tra hoặc một số hình thức khác (bài tập dự án, bài thực hành). Hiện nay, đánh giá định kì trong môn Ngữ văn thường tập trung vào công cụ là đề kiểm tra, với hai nội dung là đọc hiểu và viết. Đề kiểm tra có thể yêu cầu hình thức tự luận, có thể kết hợp hình thức trắc nghiệm khách quan (gồm những câu hỏi trắc nghiệm khách quan) và hình thức tự luận (gồm những câu hỏi mở) để đánh giá năng lực đọc hiểu và năng lực viết của HS về một chủ đề nào đó theo từng kiểu văn bản đã học trong chương trình. Việc ra đề kiểm tra định kỳ cần được đổi mới cách thức đánh giá, sử dụng và khai thác ngữ liệu đảm bảo yêu cầu đánh giá năng lực của HS, khắc phục tình trạng học thuộc, sao chép tài liệu có sẵn; tránh dùng lại các văn bản ngữ liệu mà HS đã học để kiểm tra năng lực đọc hiểu và viết văn bản một cách sáng tạo, tránh sao chép văn mẫu.

Trong môn Ngữ văn, ngữ liệu là một bộ phận cấu thành của nội dung giáo dục, góp phần quan trọng trong việc hình thành, phát triển ở học sinh những phẩm chất và năng lực được nêu trong chương trình. Khác với CT Ngữ văn 2006, Chương trình Ngữ văn 2018 có định hướng mở về ngữ liệu: CT không quy định cụ thể các văn bản ngữ liệu như một nội dung dạy học bắt buộc đối với tất cả các lớp. Tuy vậy, để bảo đảm nội dung giáo dục cốt lõi, thống nhất trên cả nước, bên cạnh những văn bản gợi ý tác giả sách giáo khoa và giáo viên lựa chọn, Chương trình quy định một số văn bản bắt buộc (06 tác phẩm) và các văn bản bắt buộc lựa chọn; đồng thời quy định một số tiêu chí lựa chọn ngữ liệu. Trong nội dung dạy học của mỗi lớp, Chương trình chỉ nêu định hướng về các kiểu văn bản và thể loại được dạy ở từng lớp; riêng ở cấp tiểu học có quy định độ dài của văn bản.

Trong các bộ SGK môn Ngữ văn, ngữ liệu có thể coi là “xương sống”, “hồn cốt” góp phần tạo nên diện mạo của từng cuốn SGK, và là căn cứ để tổ chức các hoạt động dạy học và kiểm tra, đánh giá. Ngữ liệu là đối tượng trực tiếp của hoạt động đọc hiểu, và cũng là phương tiện để GV kiểm tra khả năng đọc hiểu và tạo lập văn bản của học sinh. Ngữ liệu được lựa chọn trong các bộ SGK môn Ngữ văn cấp THCS và THPT được kết nối theo các kiểu loại văn bản và các chủ điểm hoặc nội dung để tổ chức các hoạt động đọc, thực hành tiếng Việt, viết, nói và nghe trong các bài học.

Để tổ chức hoạt động kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực, việc lựa chọn các ngữ liệu cho đề kiểm tra/đề thi là hết sức quan trọng. Bởi lẽ, mục tiêu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 là phát huy năng lực của người học, chống văn mẫu, chống sao chép trong thực hành kiểm tra, đánh giá. Tuy nhiên, hiện nay vấn đề băn khoăn lớn nhất của giáo viên (cả bậc THCS và THPT) trong cả nước là làm thế nào để có ngữ liệu chuẩn, ngữ liệu “ngoài sách giáo khoa” theo qui định của Bộ Giáo dục. Thực ra, yêu cầu đánh giá (theo CT) là tránh sử dụng lại ngữ liệu học sinh đã được học. Cụm từ “ngoài sách giáo khoa” chỉ là cách nói mang tính khẩu ngữ, chứ không xuất hiện trong yêu cầu về đánh giá của Chương trình. Mặc khác, hầu hết giáo viên chúng ta đang đồng nhất giữa yêu cầu của thi với yêu cầu kiểm tra trong dạy học. Chính vì vậy mà gây ra lúng túng cả trong công tác chỉ đạo của các cơ sở giáo dục, cả trong thực hành dạy học và kiểm tra đánh giá của giáo viên.

 CT Ngữ văn 2018 quy định về đổi mới kiểm tra đánh giá: Tránh dùng dùng lại các văn bản ngữ liệu đã học để đánh giá được chính xác khả năng đọc hiểu và phân tích, cảm thụ tác phẩm văn học.

Vậy, vấn đề “tránh sử dụng ngữ liệu đã học trong sách giáo khoa” nên hiểu như thế nào cho đúng?

Thông tư số 22 ngày 20 tháng 7 năm 2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo qui định về đánh giá học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông, tại khoản 1,2 điều 4 (Yêu cầu đánh giá) đã ghi rõ:

  • Đánh giá căn cứ vào yêu cầu cần đạt được qui định trong Chương trình Giáo dục phổ thông.
  • Đánh giá đảm bảo tính chính xác, công bằng, toàn diện, trung thực và khách quan.

Chính yêu cầu về tính công bằng trong kiểm tra đánh giá dẫn tới qui định bắt buộc phải sử dụng ngữ liệu ngoài sách giáo khoa môn Ngữ văn trong các kì đánh giá diện rộng (thi). Chúng ta đang có 3 bộ sách đáp ứng được yêu cầu của Chương trình và đang được triển khai dạy học trên cả nước. Chúng ta hiện cũng đang có một kì thi tốt nghiệp bậc THPT cho tất cả học sinh. Vì vậy, trong các đề thi THPTQG, việc tránh sử dụng các văn bản đã được học trong cả 3 bộ sách chính là để đảm bảo tính công bằng cho tất cả thí sinh. Nếu ngữ liệu trong đề thi dùng trích đoạn của một tác phẩm nào đó mà chỉ xuất hiện ở một (hoặc hai) trong ba bộ sách, ngay cả trích đoạn khác của tác phẩm đã được học, cũng là sự thiếu công bằng đối với những thí sinh học các bộ sách còn lại, chính vì vậy mà phải “tránh”.

Nhưng kiểm tra/đánh giá định kì thì khác. Khoản 3 điều 2 của Thông tư 22 nêu rõ: “Đánh giá định kì là hoạt động đánh giá kết quả rèn luyện và học tập sau một giai đoạn trong năm học nhằm xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ rèn luyện và học tập của học sinh theo yêu cầu cần đạt được qui định trong Chương trình giáo dục phổ thông”. Chương trình GDPT 2018 cũng qui định rất cụ thể: “Đánh giá định kì được thực hiện ở thời điểm gần cuối hoặc cuối một giai đoạn học tập (cuối học kì, cuối cấp học) do cơ sở giáo dục tổ chức thực hiện để phục vụ công tác quản lí hoạt động dạy học, bảo đảm chất lượng giáo dục và phục vụ công tác phát triển chương trình, tài liệu học tập. Đánh giá định kì thường thông qua các đề kiểm tra hoặc đề thi viết. Đề thi, kiểm tra có thể yêu cầu hình thức viết tự luận (một hoặc nhiều câu); có thể kết hợp hình thức trắc nghiệm khách quan (câu hỏi trắc nghiệm khách quan) và hình thức tự luận (câu hỏi mở) để đánh giá đọc hiểu và yêu cầu viết bài văn về một chủ đề nào đó theo từng kiểu văn bản đã học trong chương trình. Có thể sử dụng hình thức kiểm tra vấn đáp (để đánh giá nói và nghe) nếu thấy cần thiết và có điều kiện. Trong việc đánh giá kết quả học tập cuối năm học, cuối cấp học, cần đổi mới cách thức đánh giá (cấu trúc đề, cách nêu câu hỏi, phân giải độ khó,...); sử dụng và khai thác ngữ liệu bảo đảm yêu cầu đánh giá được năng lực của học sinh, khắc phục tình trạng học sinh chỉ học thuộc bài hoặc sao chép tài liệu có sẵn; tránh dùng lại các văn bản ngữ liệu đã học để đánh giá được chính xác khả năng đọc hiểu và phân tích, cảm thụ tác phẩm văn học”.

Công văn 3175 của Bộ giáo dục và Đào tạo ngày 21/7/2022 về việc hướng dẫn đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn ở trường phổ thông, cũng qui định rõ: “Trong đánh giá kết quả học tập cuối học kì, cuối năm học, cuối cấp học, tránh dùng lại các văn bản đã học trong sách giáo khoa làm ngữ liệu xây dựng các đề kiểm tra đọc hiểu và viết để đánh giá chính xác năng lực học sinh, khắc phục tình trạng học sinh chỉ học thuộc bài hoặc sao chép nội dung tài liệu có sẵn. Như vậy có thể thấy, cả Thông tư 22 và Chương trình Giáo dục phổ thông cũng như Công văn hướng dẫn về kiểm tra đánh giá của Bộ đều không đặt ra những qui chuẩn về cấu trúc và định dạng cũng như hình thức kiểm tra đánh giá định kì đối với học sinh. Vì vậy, không nhất thiết phải áp dụng những yêu cầu của đề thi tốt nghiệp THPT với yêu cầu của đề kiểm tra định kì.

Việc đổi mới phương pháp dạy học và thay đổi ngữ liệu trong kiểm tra đánh giá trong môn Ngữ văn có thể xem là bước đột phá để giải quyết tình trạng sao chép văn mẫu. Tuy nhiên, ngữ liệu, dù đặc biệt quan trọng, vẫn chỉ là phương tiện mang tính khách quan. Yêu cầu mới khi lựa chọn ngữ liệu trong đánh giá sẽ tạo cơ hội để HS tiếp xúc với một đối tượng hoàn toàn mới, buộc các em phải đi trên một con đường lạ, kích thích các em tư duy trước một tình huống mới.  

Mặt khác, cần lưu ý, chọn ngữ liệu mới là yêu cầu cần thiết trong kiểm tra, đánh giá, nhưng hệ thống câu hỏi xây dựng trên ngữ liệu mới là điều kiện đủ để hướng tới mục tiêu ĐG năng lực. Trong đổi mới dạy học Ngữ văn, nếu chỉ đặt mục tiêu giúp học sinh áp dụng một số tri thức cơ bản về thể loại để đọc hiểu ngữ liệu mà không hướng tới việc hình thành cho các em khả năng tư duy chiều sâu để đánh giá giá trị đa chiều (theo các phương diện văn học, văn hóa, chính trị, lịch sử, kinh tế, tự nhiên, xã hội, cá nhân…) của tác phẩm, thì chưa thể khẳng định việc đổi mới đã đạt hiệu quả. Không phải sự thay đổi ngữ liệu trong môn học, mà chính sự thay đổi tư duy trong mỗi cá nhân mới thể hiện được khả năng sáng tạo của các em, khả năng phân tích nhiều góc độ, độc lập đánh giá giá trị của đối tượng, phản biện những lối mòn trong tư duy để nảy sinh những ý tưởng mới lạ, đó mới chính là giá trị mà mỗi nền giáo dục cần định hướng tạo lập cho người học.

Bởi vậy, trong quá trình dạy học và kiểm tra đánh giá, giáo viên cần đặt những câu hỏi phản biện, hoặc khuyến khích học sinh đặt những câu hỏi phản biện, buộc các em phải huy động kiến thức sâu rộng; khả năng lập luận chặt chẽ, linh hoạt; góc nhìn đa chiều để truy vấn hoặc bảo vệ quan điểm cá nhân. Bằng cách đó, ngay cả tác phẩm không mới vẫn có khả năng tạo cơ hội cho học sinh nảy sinh góc nhìn mới và nhận thức mới.

Cần lưu ý, Chương trình Ngữ văn 2018 và các văn bản chỉ đạo của Bộ nêu chủ trương “tránh”, chứ không “cấm” sử dụng lại văn bản đã học trong SGK làm ngữ liệu kiểm tra đọc và viết; đồng thời khuyến khích xây dựng các đề mở để phát huy khả năng sáng tạo của học sinh. Có nghĩa là giáo viên vẫn được phép dùng lại các văn bản đã học để làm ngữ liệu đánh giá học sinh trong những bài kiểm tra thường xuyên hoặc giữa kỳ, dưới các hình thức linh hoạt như các dự án học tập, bài tập nghiên cứu khoa học, thảo luận, tranh biện,… đặc biệt với mục đích hình thành và phát huy tư duy phản biện cho học sinh.

Đánh giá năng lực là đánh giá kiến thức và kĩ năng trong những bối cảnh có ý nghĩa. Đối với môn Ngữ văn, bối cảnh có ý nghĩa được hiểu là những văn bản ngữ liệu mới và nhiệm vụ đọc, viết tương đương với văn bản, nhiệm vụ đã học. Vì vậy, trong việc lựa chọn ngữ liệu cho kiểm tra đánh giá định kì, cần đáp ứng một số yêu cầu sau đây:

  • Lựa chọn các văn bản ngữ liệu tương đương:

Khái niệm “tương đương” có thể hiểu là:

+ Tương đương về thể loại (cùng thể loại với các thể loại văn bản đã học)

            + Tương đương về dung lượng/độ dài: Trong qui định về đề thi Tốt nghiệp THPT từ sau năm 2025 đã ghi rõ, dung lượng ngữ liệu của các loại văn bản được sử dụng trong Đề thi không vượt quá 1300 chữ (cho tất cả ngữ liệu). Tuy nhiên, đó là trong trường hợp đề thi sử dụng tới 2 ngữ liệu (cho cả phần Đọc hiểu và Viết). Trường hợp chỉ sử dụng 01 ngữ liệu, và với đề thi định kì, chỉ nên dao động từ khoảng 600 đến 1000 chữ. Văn bản trên 1000 chữ có lẽ là quá dài, ảnh hưởng nhiều đến quá trình/ khả năng tiếp nhận của học sinh.

  • Không trùng lặp với đoạn trích/văn bản đã học trong SGK do Bộ GD&ĐT đã ban hành:

Trên cơ sở thực tế là hiện nay, có đến 03 bộ sách giáo khoa đang được triển khai dạy học ở cả bậc THCS và THPT, mỗi trường/ cơ sở giáo dục (thậm chí mỗi địa phương) chỉ học 01 bộ sách, nên khi kiểm tra đánh giá định kì, Giáo viên chỉ cần tránh sử dụng lại những đoạn trích/văn bản đã học trong bộ sách giáo khoa mà học sinh của từng trường cụ thể, đang học. Chẳng hạn, đối với học sinh trường A đang học bộ sách Cánh Diều, Giáo viên hoàn toàn có thể sử dụng văn bản / đoạn trích tương đương ở các bộ sách khác như Kết nối tri thức với cuộc sống hay Chân trời sáng tạo làm ngữ liệu để kiểm tra đánh giá định kì cho học sinh trường mình. Như vậy, vừa vẫn đảm bảo tính khách quan, vừa thuận lợi cho việc khai thác nguồn ngữ liệu. Bởi lẽ, các bộ sách hiện hành đã có sự chọn lựa khá kĩ về các ngữ liệu cho dạy học các thể loại văn bản. Những đoạn trích/ ngữ liệu này cũng đã được thông qua bởi Hội đồng thẩm định Quốc gia khi thẩm định từng bộ sách. Có thể coi đó là những ngữ liệu tiêu biểu cho các thể loại văn bản mà học sinh đã/cần được học. Mặt khác, việc lựa chọn một Ngữ liệu phù hợp đối với phần đông các giáo viên hiện nay là điều không dễ dàng. Do đó, tận dụng ngữ liệu từ các bộ sách khác là phương án khả thi và mang tính hiệu quả cao. 

- Đúng loại/ thể loại, đã được học trong Chương trình:

Thực tế cho thấy, nhiều giáo viên khi lựa chọn ngữ liệu cho đề kiểm tra đã có sự nhầm lẫn giữa các thể loại, hoặc không chọn được các ngữ liệu/đoạn trích tiêu biểu, vì cả những lí do khách quan và chủ quan. Vậy nên, nếu lựa chọn ngữ liệu trong/từ các bộ sách khác như đã nói ở trên sẽ đáp ứng được yêu cầu này.

  • Chứa đựng các yếu tố tiêu biểu cho loại/thể loại cần đánh giá:

Không phải ngữ liệu nào cũng phù hợp cho các đề kiểm tra đánh giá cụ thể. Việc lựa chọn ngữ liệu cần đặc biệt chú ý tới tính phù hợp/ tiêu biểu cho từng thể loại cần đánh giá. Nhất là ngữ liệu đó phải/cần chứa đựng trong nó những yếu tố tiêu biểu cho các vấn đề được hỏi. Nói cách khác, để hỏi đúng và hỏi trúng vấn đề, người giáo viên phải chọn lựa cho được các đoạn trích/ ngữ liệu tiêu biểu. Tránh tình trạng cứ có đoạn trích đúng thể loại, đúng dung lượng rồi thì đặt câu hỏi cho đúng số lượng, đúng các mức độ chỉ báo của năng lực là được. Điều này dẫn tới việc khai thác văn bản một cách hời hợt, tùy tiện, không đáp ứng được yêu cầu đánh giá năng lực đối với học sinh.

  • Phù hợp với kinh nghiệm, năng lực nhận thức, đặc điểm tâm – sinh lí của HS

            Có giá trị đặc sắc về nội dung và nghệ thuật, chuẩn mực và sáng tao về ngôn ngữ, phản ánh được các thành tựu tiêu biểu của văn học dân tộc ở các giai đoạn khác nhau; có tính nhân văn, giáo dục lòng nhân ái, khoan dung, tình yêu chân thiện mĩ, tình yêu thiên nhiên, tinh thần hội nhập quốc tế, hướng đến những giá trị phổ quát của nhân loại.

- Hạn chế dùng văn bản thơ dịch.

            - Trích dẫn đúng quy cách, nguồn rõ ràng

 Nếu ngữ liệu là đoạn trích văn xuôi, cần có tóm tắt bối cảnh của đoạn trích. (lưu ý là tóm tắt bối cảnh chứ không phải là tóm tắt đoạn trích).

Để tránh áp lực cho giáo viên trong việc tìm ngữ liệu cho đề kiểm tra đánh giá, có thể tìm và sử dụng ngữ liệu theo các cách sau đây:

- Sử dụng Ngữ liệu trong bộ SGK đang dạy

Các bộ sách giáo khoa theo chương trình 2018 đều không thiết kế các bài học theo văn bản/tác phẩm mà theo các chủ điểm. Mỗi chủ điểm có thể có từ 3 -5 văn bản. Trong trường hợp giáo viên chỉ khai thác một vài văn bản trong số đó mà đã đáp ứng được yêu cầu cần đạt của bài học, có thể sử dụng ngay các văn bản chưa học trong chủ đề đó (các văn bản so sánh, kết nối) làm ngữ liệu để ra đề kiểm tra cho học sinh của mình. Điều này không ảnh hưởng gì tới qui định tránh sử dụng các ngữ liệu/văn bản đã được học. Vì trên thực tế, các văn bản đó đối với học sinh, chính là những văn bản chưa được học, tức là văn bản/ngữ liệu đó được coi là mới.

- Ngữ liệu của các bộ SGK khác

Cách làm hiệu quả nhất và cũng tiện lợi nhất, là sử dụng các văn bản/ngữ liệu của các bộ sách khác làm ngữ liệu cho kiểm tra đánh giá. Như đã nói, học sinh học bộ sách Cánh Diều có thể được kiểm tra bằng các văn bản/ ngữ liệu của các bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống hay Chân trời sáng tạo. Như vậy, giáo viên sẽ có được đoạn trích/văn bản tương đương với đoạn trích/văn bản mà học sinh của mình đã được học.

- Ngữ liệu do GV tự chọn

Làm mới các ngữ liệu trong kiểm tra đánh giá luôn luôn là điều cần thiết và cũng là điều khó khăn đối với mỗi giáo viên. Chính vì cách hiểu “tránh/không sử dụng ngữ liệu trong các bộ sách giáo khoa” thay vì “không sử dụng văn bản/ngữ liệu học sinh đã được học trong sách giáo khoa” mà giáo viên thường mặc định khi tìm văn bản/ngữ liệu cho đề kiểm tra là tránh tất cả những ngữ liệu/văn bản đã được học ở cả ba bộ sách. Điều này dẫn đến vô vàn những khó khăn cho giáo viên với tư cách người ra đề. Bởi lẽ, lựa chọn được văn bản/thể loại tương đương đã khó, chọn những văn bản/ ngữ liệu mới đáp ứng các yêu cầu đặt ra (như thể loại, dung lượng, chứa đựng những yếu tố tiêu biểu cho thể loại cần đánh giá,…) lại càng khó hơn. Mặt khác, rất nhiều giáo viên chưa/không phân biệt được sự khác nhau giữa truyện ngắn với tiểu thuyết, thơ hiện đại và thơ hậu hiện đại,…nên khi lựa chọn và thiết kế các câu hỏi thường rơi vào lúng túng, ngữ liệu không được chọn lọc, câu hỏi không được lớp lang, bài bản. Thậm chí, có nhiều câu hỏi chỉ là hỏi cho có lệ, cho đủ số lượng và đúng cấu trúc, mức độ năng lực, còn hỏi có đúng và trúng vấn đề không lại không thật sự được quan tâm, và với một số ít giáo viên, thậm chí đó lại còn là điều vượt quá khả năng.

Tất nhiên, trong quá trình dạy học, mỗi giáo viên cần phải thường xuyên tìm kiếm ngữ liệu, vừa để phong phú thêm cho việc dạy học trên lớp, vừa cần thiết cho việc cung cấp ngữ liệu để kiểm tra đánh giá. Lưu ý là việc lựa chọn ngữ liệu ngoài các bộ sách giáo khoa, người giáo viên cần tuân thủ những qui định cụ thể về văn bản/ngữ liệu dùng trong dạy học và kiểm tra đánh giá theo những qui định của Bộ giáo dục và Đào tạo.

Tóm lại, việc sử dụng ngữ liệu trong kiểm tra, đánh giá cần được thực hiện như sau:

  • Đánh giá thường xuyên: GV cần khai thác các ngữ liệu học sinh được học trong các văn bản đọc hiểu, vận dụng trong quá trình viết văn bản, đặc biệt chú ý kiểm tra năng lực đọc hiểu các văn bản được quy định (06 tác phẩm).
  • Đánh giá định kì: GV có thể lựa chọn ngữ liệu như sau:

           + Ngữ liệu trong bộ SGK đang dạy: có thể chọn các văn bản thực hành, ngữ liệu trong bài ôn tập, ngữ liệu trong sách baì tập của bộ sách GV đang sử dụng.

           + Ngữ liệu của các bộ SGK khác: chọn các văn bản ngữ liệu tương đương, cùng thể loại của bộ sách khác (VB học sinh không được GV dạy ).

           + Ngữ liệu do GV tự chọn (ngữ liệu ngoài tất cả các bộ SGK): GV chủ động xây dựng nguồn ngữ liệu để sử dụng trong các kì kiểm tra.

  • Thi tốt nghiệp, chuyển cấp: đề thi được biên soạn bởi các các cấp quán lí, ngữ liệu trong các bài thi là ngữ liệu không có trong tất cả các bộ SGK mà HS được học.

 

Cùng chuyên mục

Xem thêm
GIỮ NGỌN LỬA TRI THỨC NƠI BIÊN CƯƠNG – QUYẾT TÂM ĐỔI MỚI VÌ TƯƠNG LAI HỌC SINH LẠNG SƠN

GIỮ NGỌN LỬA TRI THỨC NƠI BIÊN CƯƠNG – QUYẾT TÂM ĐỔI MỚI VÌ TƯƠNG LAI HỌC SINH LẠNG SƠN

KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG  NĂM HỌC 2023-2024

KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG NĂM HỌC 2023-2024

MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA TẠI  CÁC TRƯỜNG PTDTNT, PTDTBT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN

MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA TẠI CÁC TRƯỜNG PTDTNT, PTDTBT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN

CÔNG TÁC QUẢN LÝ, TỔ CHỨC HỌC SINH THỰC HIỆN TỰ QUẢN  Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ, BÁN TRÚ TRÊN ĐỊA BÀN TÌNH LẠNG SƠN

CÔNG TÁC QUẢN LÝ, TỔ CHỨC HỌC SINH THỰC HIỆN TỰ QUẢN Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ, BÁN TRÚ TRÊN ĐỊA BÀN TÌNH LẠNG SƠN