TIN NỔI BẬT
Chuyên đề GDĐT
Lương Ánh Tuyết 5.262

MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA TẠI CÁC TRƯỜNG PTDTNT, PTDTBT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN

MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA TẠI CÁC TRƯỜNG PTDTNT, PTDTBT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠNPhòng Giáo dục Trung học – Sở GDĐT Xã hội hoá giáo dục là huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước để xây dựng một xã hội học tập; là việc thực hiện mối liên hệ phổ biến giữa hoạt động giáo dục và cộng đồng xã hội, làm cho giáo dục phù hợp với sự phát triển của xã hội, thích ứng với xã hội, duy trì sự cân bằng giữa hoạt động giáo dục và xã hội. Xã hội hoá giáo dục là làm cho hoạt động giáo dục mang tính xã hội. Trong đó người đi giáo dục và người được giáo dục trong mọi hoạt động về nội dung và phương thức thực hiện, kết quả đạt được đều mang tính xã hội, tính chuẩn mực xã hội rất cao. Giáo dục nhằm bồi đắp cho người học tư tưởng, hình thành ý thức chính trị, nhân cách, bản lĩnh dân tộc cùng với những tri thức khoa học, kỹ thuật, văn hoá, đạo đức, lối sống. Trong tiến trình phát triển ở nhiều quốc gia, giáo dục được xem là cách để giảm thiểu rủi ro, nguy cơ cho xã hội và là con đường hữu hiệu để chống đói nghèo. Ngày nay, khi trí tuệ đã trở thành yếu tố hàng đầu thể hiện quyền lực và sức mạnh của một quốc gia thì chúng ta đều ý thức được rằng, giáo dục không chỉ là phúc lợi xã hội, mà thực sự là đòn bẩy quan trọng để phát triển kinh tế, phát triển xã hội. Theo đó, các nước kém phát triển cần quan tâm đến giáo dục và đầu tư cho giáo dục bởi đây chính là đầu tư cho phát triển, quyết định vận mệnh của con người, xã hội, vận mệnh của dân tộc. Vì thế, giáo dục, đào tạo giữ vai trò trung tâm, then chốt để hội nhập và phát triển của mỗi quốc gia.So với các nước, kể cả các nước có trình độ phát triển kinh tế cao hơn thì tỷ lệ chi tiêu công cho giáo dục trên GDP của Việt Nam khá lý tưởng (khoảng 5% GDP) góp phần đem lại những thành tựu quan trọng cho giáo dục nước nhà. Để thực hiện nguyên tắc hiến định “phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu”, Luật Giáo dục qua các thời kỳ đã xác định rõ hệ thống giáo dục quốc dân là hệ thống giáo dục mở, liên thông gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên. Trong đó, cấp học, trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Để bảo đảm tính chất “đa mục tiêu” của nền giáo dục, chúng ta không thể chỉ dựa vào nguồn lực của Nhà nước, mà cần thực hiện giải pháp “xã hội hoá”. Năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao, trong đó đặt mục tiêu định hướng đến năm 2010, “tỷ lệ học sinh nhà trẻ ngoài công lập chiếm 80%, mẫu giáo 70%, trung học phổ thông 40%, trung học chuyên nghiệp 30%, các cơ sở dạy nghề 60%, đại học, cao đẳng khoảng 40%”.Năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 40/NQ-CP về xã hội hóa giáo dục. Những năm gần đây, chủ trương xã hội hóa giáo dục còn được Trung ương chỉ đạo rõ hơn trong Nghị quyết số 29/NQ-TƯ ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Trong phần Định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, quan điểm chỉ đạo, Nghị quyết xác định: “Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo. Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền. Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách. Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo”. Ngày 24 tháng 01 năm 2018 Chính phủ đã Ban hành Nghị quyết số 08/NQ-CP Nghị quyết chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Phấn đấu đạt các chỉ tiêu cụ thể: Đến năm 2021, giảm tối thiểu bình quân cả nước 10% (bằng 5.792) đơn vị sự nghiệp công lập và 10% (bằng 205.369) biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2015; có 10% (bằng 5.792) đơn vị tự chủ tài chính, giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2011 - 2015; hoàn thành cơ bản việc chuyển đổi các đơn vị sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp có đủ điều kiện thành công ty cổ phần (trừ các bệnh viện và trường học); hoàn thành lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp, công (tính đủ tiền lương, chi phí trực tiếp, chi phí quản lý và khấu hao tài sản) đối với một số lĩnh vực cơ bản như y tế, giáo dục - đào tạo, giáo dục nghề nghiệp. Đến năm 2025 tiếp tục giảm tối thiểu bình quân cả nước 10% (bằng 5,213) đơn vị sự nghiệp công lập và 10% (bằng 184.832) biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2021; chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định trong các đơn vị sự nghiệp công lập; có tối thiểu 20% (bằng 10.426) đơn vị tự chủ tài chính, 100% đơn vị sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác có đủ điều kiện hoàn thành chuyển đổi thành công ty cổ phần; tiếp tục giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2016 - 2020. Đến năm 2030, chỉ còn các đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ nhiệm vụ chính trị, phục vụ quản lý nhà nước và các đơn vị cung ứng các dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu; giảm 10% (bằng 166.349) biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2025; giảm bình quân 15% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2021-2025.Có thể nói rằng, các cơ sở pháp lý nêu trên là căn cứ quan trọng để việc xã hội hoá giáo dục được ghi nhận và phát triển và trở thành một phần không thể thiếu trong bức tranh chung về phát triển giáo dục Việt Nam trong những năm qua. Hiện nay, công tác XHH giáo dục nhận được sự quan tâm của các cấp, các ngành, sự vào cuộc của các tổ chức chính trị xã hội, của toàn thể nhân dân, các doanh nghiệp, nhà hảo tâm...Số lượng các tổ chức chính trị xã hội, các doanh nghiệp, các mạnh thường quân, nhà hảo tâm hỗ trợ XHH các đơn vị nhà trường ngày càng tăng lên. Nhận thức của nhân dân về giáo dục và đào tạo có nhiều chuyển biến, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác huy động, duy trì số lượng, nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục toàn diện học sinh. Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên nhà trường chủ động khắc phục khó khăn, đoàn kết hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ; tích cực bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, đổi mới phương pháp dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng, phù hợp với đối tượng học sinh. Nhiều cá nhân đã tích cực tham gia công tác xã hội hóa giáo dục, hỗ trợ các nhà trường về vật chất và tinh thần, tạo môi trường giáo dục thân thiện, tích cực.Phụ huynh học sinh đóng góp ngày công sơn phòng ở cho học sinh bán trúTuy nhiên bên cạnh đó còn có những hạn chế khi công tác xã hội hóa về cơ sở vật chất, cải tạo cảnh quan, khuôn viên nhà trường, đồ dùng thiết bị, phương tiện dạy học, sân chơi, sân chơi , hiện vật, tiền mặt…giữa các đơn vị nhà trường trong toàn tỉnh chưa được thực hiện đồng đều, có những đơn vị chưa thật sự quan tâm đến công tác xã hội hóa. Nhiều Hiệu trưởng chưa chủ động, tích cực trong việc huy động các nguồn xã hội hóa từ các doanh nghiệp, mạnh thường quân, nhà hảo tâm, các tập thể, cá nhân.Vẫn còn còn Hiệu trưởng chưa trú trọng cộng tác xã hóa. Một số đơn vị nhà trường trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn có điều kiện đặc biệt khó khăn, tỉ lệ người dân chiếm tỷ lệ hộ nghèo cao nên khó khăn trong công tác xã hội hóa. Một số đơn vị sợ va chạm, né tránh, không huy động hoặc ngại liên hệ các đơn vị, doanh nghiệp, nhà hảo tâm để huy động nguồn xã hội hóa. Có đơn vị thực hiện công tác XHH giáo dục nhưng chưa có kế hoạch cho chương trình hành động, cũng như công tác thực hiện tham mưu chưa kịp thời, công tác phối hợp chưa chặt chẽ nên chất lượng huy động đạt chưa cao. Thủ tục hồ sơ xã hội hóa chưa đảm bảo quy trình các văn bản hướng dẫn của cấp trên. Vẫn còn một số đơn vị nhà trường chưa thật sự chủ động trong công tác xã hội hóa giáo dục mà còn trông chờ, ỷ lại sự hỗ trợ từ cấp trên, từ các doanh nghiệp, các mạnh thường quân, các nhà hảo tâm.Từ thực tế trên cho thấy, muốn thực hiện có hiệu quả thực sự đối với công tác xã hội hóa giáo dục cần quan tâm một số vấn đề sau:Trước tiên cần nhận thức rõ vai trò của Hiệu trưởng trong công tác tác hội hóa giáo dục: Hiệu trưởng phải rèn luyện cho mình là người năng động, ngoại giao tốt, thân thiện, có đức, có tâm, có tầm, có mối quan hệ rộng rãi với xã hội, có trình độ, rèn luyện cho mình phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, chuẩn mực trong giao tiếp và hành động khoa học trong thực hiện công tác XHH giáo dục. Dám hi sinh thời gian cho công tác xã hội hóa giáo dục. Lãnh đạo đơn vị hoạt động giáo dục có chất lượng, nhằm nâng cao uy tín của nhà trường và uy tín của hiệu trưởng. Xây dựng cho toàn đơn vị kế hoạch vận động XHH giáo dục cần bám sát vào các văn bản hướng dẫn của các cấp. Rà soát, nắm chắc các nội dung cần huy động, điều kiện hoàn cảnh từng học sinh để huy động sự đóng góp cả từng cá nhân, tập thể doanh nghiệp trong và ngoài địa bàn tham gia đóng góp xây dựng trường lớp từ vật chất đến tinh thần, tạo mọi điều kiện để mọi người được tham gia đóng góp ý kiến trong công tác chăm sóc, giáo dục học sinh; kế hoạch nghiên cứu rõ về thực trạng kinh tế xã hội của địa phương, điều kiện thu nhập của nhân dân trên địa bàn. Hội nghị phụ huynh học sinh vào đầu năm học, cuối học kỳ I và thông qua giao tiếp nắm bắt cơ hội thế mạnh, khi tiếp xúc, khi với các doanh nghiệp, nhà hảo tâm, các mạnh thường quân. Kế hoạch xác định sự cần thiết về sự đóng góp ý kiến xây dựng hoạt động chăm sóc, giáo dục thọc sinh; các hạng mục cơ sở vật chất, phần việc cần vận động đầu tư, số tiền cho từng phần; những vấn đề nhà trường cần được phụ huynh học sinh đóng góp; bản thân cán bộ , giáo viên, nhân viên trong đơn vị đều tham gia; đi đầu là Đảng viên, cán bộ quản lý trường học. Kế hoạch XHH thông qua Chi bộ Đảng, hội đồng trường và tập thể hội đồng sư phạm nhà trường để cùng nhau tổ chức thực hiện kế hoạch. Công tác phối hợp với cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể địa phương được duy trì và giữ mối liên hệ chặt chẽ, tiếng nói của Đảng ủy, Ủy ban và các ban ngành đoàn thể thông qua các cuộc Hội nghị phụ huynh học sinh tạo nên động lực mạnh mẽ trong công tác tuyên truyền vận động người dân trong địa bàn, thấy được trách nhiệm của toàn xã hội và từng cá nhân trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục toàn dân. Từ đó mà tham gia XHH giáo dục tại trường lớp con em mình đang học; điều đầu tiên của bản thân người tham gia XHH giáo dục là con em họ được thụ hưởng giáo dục trong quá trình học tập rèn luyện tại trường và là nét đẹp của lòng nhân ái; sự tri ân của các cơ sở giáo dục đối với tấm lòng của các cơ quan tập thể, các cá nhân mạnh thường quân là nét đẹp truyến thống. Công tác XHH giáo dục từ đó được xã hội quan tâm ngày càng nhiều, góp phần thúc đẩy sự phát triển giáo dục về số lượng và chất lượng tại các trường học hiện nay. Bản thân Hiệu trưởng nhà trường thực hiện công tác tuyên truyền vận động và mỗi cán bộ , giáo viên, nhân viên đơn vị là một tuyên truyền viên tích cực làm công tác vận động. Có thể nói rằng trong xã hội ta ngày nay có rất nhiều tấm lòng nhân ái, họ muốn đóng góp cho giáo dục nhưng không biết phải bắt đầu từ đâu để bài tỏ tâm tư nguyện vọng của mình góp phần mang lại lợi ích cho xã hội. Chình vì thế cần phải coi trọng công tác tuyên truyền vận động và tạo môi trường tiếp xúc cho mọi người dân. Để nhận được sự tham gia đóng góp của người dân thì bản thân của đơn vị trường học phải gương mẫu đi đầu, Hiệu trưởng nhà trường là người đi đầu; cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường đều phải tham gia công tác XHH giáo dục tại đơn vị mình công tác, ngoài trách nhiệm thực hiện XHH giáo dục cán bộ, giáo viên, nhân viên trong đơn vị cần phải nhận giúp đỡ một học sinh nghèo trong năm học. Tích cực tham mưu các cơ quan có thẩm quyền, các tổ chức từ thiện, cá nhân có lòng hảo tâm hỗ trợ các trường xây dựng cơ sở vật chất: xây dựng phòng học, hỗ trợ kinh phí, sách vở, gạo, quần áo, các xuất quà, ... cho học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc công khai tài chính, mỗi đóng góp của tập thể, cá nhân đều được công bố, công khai rõ ràng, mục đích sử dùng nguồn XHH bằng vật chất cụ thể, thiết thực có mục đích để mỗi mạnh thường quân cá nhân tập thể hiểu rằng sự đóng góp của họ là đích thực và xứng đáng. Tất cả sự đóng góp của tập thể cá nhân mạnh thường quân đều phải được lưu trữ, sử dụng và bảo vệ một cách trân trọng nhằm làm động lực thúc đẩy cho công tác vận động XHH giáo dục trong những năm tiếp theo. Phối hợp với Trung tâm truyền thanh, Đài truyền hình tỉnh Lạng Sơn truyền thông công tác xã hội hóa giáo dục. Viết bài lan tỏa, đưa tin các hoạt động của các đoàn thiện nguyện hỗ trợ học sinh trên trang Facebook của trường. Viết bài dự thi về tấm gương người tốt, việc tốt, viết thư cảm ơn các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong công tác XHH giáo dục.Thứ hai, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhằm tranh thủ sự hỗ trợ về vật chất, tinh thần để cải tạo, mua sắm các đồ dùng, thiết bị... Đây phải được coi là giải pháp quan trọng có tính chiến lược, vì nếu tư tưởng thông suốt thì mọi vấn đề sẽ được giải quyết tận gốc. Đẩy mạnh tuyên truyền đến cha mẹ học sinh về lợi ích, hiệu quả của giáo dục, đặc biệt là việc cha mẹ tạo điều kiện cho con, em học bán trú tại trường. Phối hợp với phụ huynh và cộng đồng, sử dụng hiệu quả sự hỗ trợ từ các tổ chức từ thiện nhằm không ngừng cải thiện chất lượng chăm sóc, giáo dục học sinh.Tổ chức rà soát nhu cầu thực tế như cơ sở vật chất, thiết bị dạy học. Nắm bắt từng hoàn cảnh gia đình học sinh có điều kiện đặc biệt khó khăn,nhu cầu cần thiết từng đối tượng học sinh để có kế hoạch chi tiết thực hiện trong từng giai đoạn trong năm học. Nhân rộng những gương người tốt, việc tốt những thành tích của giáo dục phổ thông Các tổ chức đoàn thể như hội phụ nữ, đoàn thanh niên, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp cùng tham gia làm công tác giáo dục phổ thông. Phát huy vai trò tích cực của Hội khuyến học trong chăm lo quan tâm, động viên khen thưởng giáo viên vượt khó hoàn thành tốt nhiệm vụ, khen thưởng cho học sinh có thành tích trong năm học. Mở rộng các đợt tuyên truyền sâu rộng tới lực lượng phụ huynh, nâng cao nhận thức của cộng đồng về vị trí vai trò của xã hội hóa.HS lớp 10A4_ Trường Quốc tế Vinschool Hà Nội Tổ chức gian hàng 0 đồng của tại Trường PTDTBT THCS xã Hồng Thái, huyện Văn Lãng Gian hàng 0 đồng của Chi Đoàn Công an huyện Văn Lãng và Tiểu thương chợ Tân Thanh tại Trường PTDTBT THCS xã Hồng Thái, huyện Văn LãngThứ ba, xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch xã hội hoá giáo dục: Nhà trường xây dựng các mối quan hệ cụ thể, phù hợp với nhiều tầng bậc, vai trò của từng lực lượng xã hội trong quá trình phối kết hợp (song ở phương diện nào, Hiệu trưởng nhà trường luôn luôn phải giữ vai trò chính nòng cốt) để huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng xã hội tham gia công tác xã hội hóa giáo dục. Xã hội hóa giáo dục là huy động và tổ chức các lực lượng của toàn xã hội cùng tham gia vào quá trình giáo dục, đồng thời tạo điều kiện để mọi người dân được hưởng thụ các thành quả do hoạt động giáo dục đem lại. Từ đó tạo ra cho được phong trào mọi người học tập suốt đời, cả địa phương thành một “xã hội học tập”. Thực hiện liên kết các lực lượng xã hội hưởng ứng tích cực đối với giáo dục, tập hợp các lực lượng xã hội đóng góp, ủng hộ, tham gia xây dựng môi trường nhà trường, nền nếp giáo dục chăm học sinh bán trú đến các mối quan hệ bên trong nhà trường, quan hệ nhà trường với xã hội để nhà trường thực sự trở thành trung tâm văn hoá, môi trường giáo dục lành mạnh. Thực chất, xã hội hóa giáo dục là tổ chức một hệ thống các hoạt động của một quá trình phối hợp chặt chẽ thường xuyên giữa các cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp…để vận động các tầng lớp nhân dân tham gia đắc lực có hiệu quả vào sự nghiệp giáo dục.Các hình thức phối hợp làm công tác hội hóa giáo dục cũng có những khía cạnh, mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào trình độ, sự tự nguyện, tự giác, khả năng điều kiện riêng của các lực lượng xã hội và tính chất của từng hoạt động xã hội. Muốn công tác xã hội hoá giáo dục thực sự là công việc, là phong trào mang tính tự giác tích cực của các thành viên trong xã hội trong đó có lực lượng phụ huynh. Cần phải chú trọng vai trò của tuyên truyền vận động nâng cao tầm nhận thức cho lực lượng phụ huynh hiểu đầy đủ bản chất của xã hội hoá giáo dục. Đây là lực lượng chính hỗ trợ đắc lực cho nhà trường trong công tác chăm sóc giáo dục học sinh bán trú. Hình thức triển khai kế hoạch với nội dung của nó chủ yếu đi vào việc tuyên truyền bằng mọi cách, qua mọi phương tiện và công cụ, phổ biến các chủ trương, chính sách, nghị quyết về giáo dục phổ thông, củng cố những nhận thức, bồi dưỡng kiến thức, cập nhật thông tin, nắm bắt những hiểu biết mới cần thiết về chăm sóc - Giáo dục học sinh phù hợp với yêu cầu mới của sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của nước ta vào thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Nhận thức, tiếp thu được những nội dung nói trên sẽ mang đến những tri thức, hiểu biết đến các thành viên trong từng gia đình, giúp định hướng đúng đắn, sẵn sàng hành động, xác định rõ trách nhiệm, tham gia một cách tự giác vào việc xây dựng nhà trường. BCH Công Đoàn, Chi Đoàn Sở Công Thương tỉnh Lạng Sơn tặng quà cho HS có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Thứ tư, huy động và quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn lực huy động từ sự đóng góp của cha mẹ học sinh các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, nhà hảo tâm. Cùng với sự đầu tư ngân sách của nhà nước đã cải thiện mạnh mẽ điều kiện trường lớp, bổ sung nhiều trang thiết bị hiện đại phục vụ giáo dục, làm chuyển biến rõ nét chất lượng giáo dục phổ thông còn có sự ủng hộ đóng góp của cha mẹ học sinh, các tổ chức, cá nhân có tấm lòng hảo tâm hỗ trợ kinh phí, trang thiết bị phục vụ công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Đó là chủ trương đa dạng hoá nguồn lực cho giáo dục các đơn vị nhà trường: Đó là nguồn lực, vật lực và tài lực. Ngoài chế độ quy định về các khoản thu, các chi hội trưởng hội cha mẹ học sinh các lớp chủ động bàn bạc với ban hội cha mẹ học sinh trong toàn trường, phối hợp đề xuất của ban giám hiệu nhà trường xây dựng quỹ hội. Nhà trường chủ động huy động sự ủng hộ hảo tâm tự nguyện của các phụ huynh bổ sung thêm trang thiết bị cần thiết phục vụ công tác chăm sóc giáo dục học sinh Tổ chức lấy ý kiến trong cuộc họp cha mẹ học sinh đầu năm học, quản lý sử dụng đúng mục đích và công khai minh bạch. Ban giám hiệu nhà trường tham mưu với hội phụ huynh nhà trường xây dựng kế hoạch hoạt động của hội phù hợp với đặc điểm, các hoạt động của nhà trường trong năm học. Hội phụ huynh nhà trường có quy chế, nghị quyết hoạt động của hội gửi tới từng chi hội. Các nội dung hoạt động của hội: Tham gia giám sát các hoạt động chăm sóc – nuôi dưỡng học sinh bán trú, phối kết hợp với nhóm, lớp, nhà trường tổ chức ngày lễ, hội... cho học sinh, thăm hỏi, trợ cấp cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn... không phải chỉ nhằm vào phụ huynh học sinh và trong phụ huynh học sinh không chỉ huy động tiền của, cái chính cần và cần thiết ở phụ huynh là chăm lo việc chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con cái trong gia đình kết hợp thường xuyên với giáo dục nhà trường và xã hội. Song song với huy động nguồn lực cơ sở vật chất cho nhà trường, cần phải quản lý chặt chẽ các nguồn lực cơ sở vật chất là khâu quan trọng nhằm đảm bảo sử dụng hiệu quả cao, tiết kiệm kinh phí cho nhà nước và của phụ huynh. Các nguồn kinh phí phải sử dụng có hiệu quả, các trang thiết bị đã có hoặc không cần thiết thì có biện pháp chấn chỉnh kịp thời, không để tình trạng huy động tràn lan, mua sắm văn phòng phẩm, thiết bị không cần thiết với nhu cầu sử dụng. Phân định rõ trách nhiệm tới từng thành viên trong nhà trường bằng văn bản về việc thu, chi tài chính và sử dụng hiệu quả các nguồn đầu tư. Thực hiện nghiêm túc công tác tổng kết hoạt động xã hội hóa giáo dục cuối năm học, đánh giá những mặt mạnh, đề xuất giải pháp khắc phục các mặt hạn chế để công tác xã hội hóa trong thời gian tới đạt kết quả tốt hơn.

MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA TẠI  CÁC TRƯỜNG PTDTNT, PTDTBT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN

Phòng Giáo dục Trung học – Sở GDĐT

 

Xã hội hoá giáo dục là huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước để xây dựng một xã hội học tập; là việc thực hiện mối liên hệ phổ biến giữa hoạt động giáo dục và cộng đồng xã hội, làm cho giáo dục phù hợp với sự phát triển của xã hội, thích ứng với xã hội, duy trì sự cân bằng giữa hoạt động giáo dục và xã hội. Xã hội hoá giáo dục là làm cho hoạt động giáo dục mang tính xã hội. Trong đó người đi giáo dục và người được giáo dục trong mọi hoạt động về nội dung và phương thức thực hiện, kết quả đạt được đều mang tính xã hội, tính chuẩn mực xã hội rất cao. Giáo dục nhằm bồi đắp cho người học tư tưởng, hình thành ý thức chính trị, nhân cách, bản lĩnh dân tộc cùng với những tri thức khoa học, kỹ thuật, văn hoá, đạo đức, lối sống. 

Trong tiến trình phát triển ở nhiều quốc gia, giáo dục được xem là cách để giảm thiểu rủi ro, nguy cơ cho xã hội và là con đường hữu hiệu để chống đói nghèo. Ngày nay, khi trí tuệ đã trở thành yếu tố hàng đầu thể hiện quyền lực và sức mạnh của một quốc gia thì chúng ta đều ý thức được rằng, giáo dục không chỉ là phúc lợi xã hội, mà thực sự là đòn bẩy quan trọng để phát triển kinh tế, phát triển xã hội. Theo đó, các nước kém phát triển cần quan tâm đến giáo dục và đầu tư cho giáo dục bởi đây chính là đầu tư cho phát triển, quyết định vận mệnh của con người, xã hội, vận mệnh của dân tộc. Vì thế, giáo dục, đào tạo giữ vai trò trung tâm, then chốt để hội nhập và phát triển của mỗi quốc gia.

So với các nước, kể cả các nước có trình độ phát triển kinh tế cao hơn thì tỷ lệ chi tiêu công cho giáo dục trên GDP của Việt Nam khá lý tưởng (khoảng 5% GDP) góp phần đem lại những thành tựu quan trọng cho giáo dục nước nhà. Để thực hiện nguyên tắc hiến định “phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu”, Luật Giáo dục qua các thời kỳ đã xác định rõ hệ thống giáo dục quốc dân là hệ thống giáo dục mở, liên thông gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên. Trong đó, cấp học, trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Để bảo đảm tính chất “đa mục tiêu”  của nền giáo dục, chúng ta không thể chỉ dựa vào nguồn lực của Nhà nước, mà cần thực hiện giải pháp “xã hội hoá”.  

Năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao, trong đó đặt mục tiêu định hướng đến năm 2010, “tỷ lệ học sinh nhà trẻ ngoài công lập chiếm 80%, mẫu giáo 70%, trung học phổ thông 40%, trung học chuyên nghiệp 30%, các cơ sở dạy nghề 60%, đại học, cao đẳng khoảng 40%”.

Năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 40/NQ-CP về xã hội hóa giáo dục. Những năm gần đây, chủ trương xã hội hóa giáo dục còn được Trung ương chỉ đạo rõ hơn trong Nghị quyết số 29/NQ-TƯ ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Trong phần Định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, quan điểm chỉ đạo, Nghị quyết xác định: “Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo. Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền. Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách. Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo”. Ngày 24 tháng 01 năm 2018 Chính phủ đã Ban hành Nghị quyết s 08/NQ-CP Nghị quyết chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Phấn đấu đạt các chỉ tiêu cụ thể: Đến năm 2021, giảm tối thiểu bình quân cả nước 10% (bằng 5.792) đơn vị sự nghiệp công lập và 10% (bằng 205.369) biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2015; có 10% (bằng 5.792) đơn vị tự chủ tài chính, giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2011 - 2015; hoàn thành cơ bản việc chuyển đổi các đơn vị sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp có đủ điều kiện thành công ty cổ phần (trừ các bệnh viện và trường học); hoàn thành lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp, công (tính đủ tiền lương, chi phí trực tiếp, chi phí quản lý và khấu hao tài sản) đối với một số lĩnh vực cơ bản như y tế, giáo dục - đào tạo, giáo dục nghề nghiệp. Đến năm 2025 tiếp tục giảm tối thiểu bình quân cả nước 10% (bằng 5,213) đơn vị sự nghiệp công lập và 10% (bằng 184.832) biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2021; chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định trong các đơn vị sự nghiệp công lập; có tối thiểu 20% (bằng 10.426) đơn vị tự chủ tài chính, 100% đơn vị sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác có đủ điều kiện hoàn thành chuyển đổi thành công ty cổ phần; tiếp tục giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2016 - 2020. Đến năm 2030, chỉ còn các đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ nhiệm vụ chính trị, phục vụ quản lý nhà nước và các đơn vị cung ứng các dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu; giảm 10% (bằng 166.349) biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2025; giảm bình quân 15% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2021-2025.

Có thể nói rằng, các cơ sở pháp lý nêu trên là căn cứ quan trọng để việc xã hội hoá giáo dục được ghi nhận và phát triển và trở thành một phần không thể thiếu trong bức tranh chung về phát triển giáo dục Việt Nam trong những năm qua. Hiện nay, công tác XHH giáo dục nhận được sự quan tâm của các cấp, các ngành, sự vào cuộc của các tổ chức chính trị xã hội, của toàn thể nhân dân, các doanh nghiệp, nhà hảo tâm...Số lượng các tổ chức chính trị xã hội, các doanh nghiệp, các mạnh thường quân, nhà hảo tâm hỗ trợ XHH các đơn vị nhà trường ngày càng tăng lên. Nhận thức của nhân dân về giáo dục và đào tạo có nhiều chuyển biến, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác huy động, duy trì số lượng, nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục toàn diện học sinh. Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên nhà trường chủ động khắc phục khó khăn, đoàn kết hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ; tích cực bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, đổi mới phương pháp dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng, phù hợp với đối tượng học sinh. Nhiều cá nhân đã tích cực tham gia công tác xã hội hóa giáo dục, hỗ trợ các nhà trường về vật chất và tinh thần, tạo môi trường giáo dục thân thiện, tích cực.

Phụ huynh học sinh đóng góp ngày công sơn phòng ở cho học sinh bán trú

Tuy nhiên bên cạnh đó còn có những hạn chế khi công tác xã hội hóa về cơ sở vật chất, cải tạo cảnh quan, khuôn viên nhà trường, đồ dùng thiết bị, phương tiện dạy học, sân chơi, sân chơi , hiện vật, tiền mặt…giữa các đơn vị nhà trường trong toàn tỉnh chưa được thực hiện đồng đều, có những đơn vị chưa thật sự quan tâm đến công tác xã hội hóa. Nhiều Hiệu trưởng chưa chủ động, tích cực  trong việc huy động các nguồn xã hội hóa từ các doanh nghiệp, mạnh thường quân, nhà hảo tâm, các tập thể, cá nhân.Vẫn còn còn Hiệu trưởng chưa trú trọng cộng tác xã hóa. Một số đơn vị nhà trường trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn có điều kiện đặc biệt khó  khăn, tỉ lệ người dân chiếm tỷ lệ hộ nghèo cao nên khó khăn trong công tác xã hội hóa. Một số đơn vị  sợ va chạm, né tránh, không huy động hoặc ngại liên hệ các đơn vị, doanh nghiệp, nhà hảo tâm để huy động nguồn xã hội hóa. Có đơn vị thực hiện công tác XHH giáo dục nhưng chưa có kế hoạch cho chương trình hành động, cũng như công tác thực hiện tham mưu chưa kịp thời, công tác phối hợp chưa chặt chẽ nên chất lượng huy động đạt chưa cao. Thủ tục hồ sơ xã hội hóa chưa đảm bảo quy trình các văn bản hướng dẫn của cấp trên. Vẫn còn một số đơn vị nhà trường chưa thật sự chủ động trong công tác xã hội hóa giáo dục mà còn trông chờ, ỷ lại sự hỗ trợ từ cấp trên, từ các doanh nghiệp, các mạnh thường quân, các nhà hảo tâm.

Từ thực tế trên cho thấy, muốn thực hiện có hiệu quả thực sự đối với công tác xã hội hóa giáo dục cần quan tâm một số vấn đề sau:

Trước tiên cần nhận thức rõ vai trò của Hiệu trưởng trong công tác tác hội hóa giáo dục: Hiệu trưởng phải rèn luyện cho mình là người năng động, ngoại giao tốt, thân thiện, có đức, có tâm, có tầm, có mối quan hệ rộng rãi với xã hội, có trình độ, rèn luyện cho mình phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, chuẩn mực trong giao tiếp và hành động khoa học trong thực hiện công tác XHH giáo dục. Dám hi sinh thời gian cho công tác xã hội hóa giáo dục. Lãnh đạo đơn vị hoạt động giáo dục có chất lượng, nhằm nâng cao uy tín của nhà trường và uy tín của hiệu trưởng. Xây dựng cho toàn đơn vị kế hoạch vận động XHH giáo dục cần bám sát vào các văn bản hướng dẫn của các cấp. Rà soát, nắm chắc các nội dung cần huy động, điều kiện hoàn cảnh từng học sinh để huy động sự đóng góp cả từng cá nhân, tập thể doanh nghiệp trong và ngoài địa bàn tham gia đóng góp xây dựng trường lớp từ vật chất đến tinh thần, tạo mọi điều kiện để mọi người được tham gia đóng góp ý kiến trong công tác chăm sóc, giáo dục học sinh; kế hoạch nghiên cứu rõ về thực trạng kinh tế xã hội của địa phương, điều kiện thu nhập của nhân dân trên địa bàn.  Hội nghị phụ huynh học sinh vào đầu năm học, cuối học kỳ I và thông qua giao tiếp nắm bắt cơ hội thế mạnh, khi tiếp xúc, khi với các doanh nghiệp, nhà hảo tâm, các mạnh thường quân. Kế hoạch xác định sự cần thiết về sự đóng góp ý kiến xây dựng hoạt động chăm sóc, giáo dục thọc sinh; các hạng mục cơ sở vật chất, phần việc cần vận động đầu tư, số tiền cho từng phần; những vấn đề nhà trường cần được phụ huynh học sinh đóng góp; bản thân cán bộ , giáo viên, nhân viên trong đơn vị đều tham gia; đi đầu là Đảng viên, cán bộ quản lý trường học.

Kế hoạch XHH thông qua Chi bộ Đảng, hội đồng trường và tập thể hội đồng sư phạm nhà trường để cùng nhau tổ chức thực hiện kế hoạch. Công tác phối hợp với cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể địa phương được duy trì và giữ mối liên hệ chặt chẽ, tiếng nói của Đảng ủy, Ủy ban và các ban ngành đoàn thể thông qua các cuộc Hội nghị phụ huynh học sinh tạo nên động lực mạnh mẽ trong công tác tuyên truyền vận động người dân trong địa bàn, thấy được trách nhiệm của toàn xã hội và từng cá nhân trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục toàn dân. Từ đó mà tham gia XHH giáo dục tại trường lớp con em mình đang học; điều đầu tiên của bản thân người tham gia XHH giáo dục là con em họ được thụ hưởng giáo dục trong quá trình học tập rèn luyện tại trường và là nét đẹp của lòng nhân ái; sự tri ân của các cơ sở giáo dục đối với tấm lòng của các cơ quan tập thể, các cá nhân mạnh thường quân là nét đẹp truyến thống. Công tác XHH giáo dục từ đó được xã hội quan tâm ngày càng nhiều, góp phần thúc đẩy sự phát triển giáo dục về số lượng và chất lượng tại các trường học hiện nay.

Bản thân Hiệu trưởng nhà trường thực hiện công tác tuyên truyền vận động và mỗi cán bộ , giáo viên, nhân viên đơn vị là một tuyên truyền viên tích cực làm công tác vận động. Có thể nói rằng trong xã hội ta ngày nay có rất nhiều tấm lòng nhân ái, họ muốn đóng góp cho giáo dục nhưng không biết phải bắt đầu từ đâu để bài tỏ tâm tư nguyện vọng của mình góp phần mang lại lợi ích cho xã hội. Chình vì thế cần phải coi trọng công tác tuyên truyền vận động và tạo môi trường tiếp xúc cho mọi người dân.

Để nhận được sự tham gia đóng góp của người dân thì bản thân của đơn vị trường học phải gương mẫu đi đầu, Hiệu trưởng nhà trường là người đi đầu; cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường đều phải tham gia công tác XHH giáo dục tại đơn vị mình công tác, ngoài trách nhiệm thực hiện XHH giáo dục cán bộ, giáo viên, nhân viên trong đơn vị cần phải nhận giúp đỡ một học sinh nghèo trong năm học. Tích cực tham mưu các cơ quan có thẩm quyền, các tổ chức từ thiện, cá nhân có lòng hảo tâm hỗ trợ các trường xây dựng cơ sở vật chất: xây dựng phòng học, hỗ trợ kinh phí, sách vở, gạo, quần áo, các xuất quà, ... cho học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc công khai tài chính, mỗi đóng góp của tập thể, cá nhân đều được công bố, công khai rõ ràng, mục đích sử dùng nguồn XHH bằng vật chất cụ thể, thiết thực có mục đích để mỗi mạnh thường quân cá nhân tập thể hiểu rằng sự đóng góp của họ là đích thực và xứng đáng. Tất cả sự đóng góp của tập thể cá nhân mạnh thường quân đều phải được lưu trữ, sử dụng và bảo vệ một cách trân trọng nhằm làm động lực thúc đẩy cho công tác vận động XHH giáo dục trong những năm tiếp theo.

Phối hợp với Trung tâm truyền thanh, Đài truyền hình tỉnh Lạng Sơn truyền thông công tác xã hội hóa giáo dục. Viết bài lan tỏa, đưa tin các hoạt động của các đoàn thiện nguyện hỗ trợ học sinh trên trang Facebook của trường. Viết bài dự thi về tấm gương người tốt, việc tốt, viết thư cảm ơn các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong công tác XHH giáo dục.

Thứ hai, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhằm tranh thủ sự hỗ trợ về vật chất, tinh thần để cải tạo, mua sắm các đồ dùng, thiết bị... Đây phải được coi là giải pháp quan trọng có tính chiến lược, vì nếu tư tưởng thông suốt thì mọi vấn đề sẽ được giải quyết tận gốc. Đẩy mạnh tuyên truyền đến cha mẹ học sinh về lợi ích, hiệu quả của giáo dục, đặc biệt là việc cha mẹ tạo điều kiện cho con, em học bán trú  tại trường. Phối hợp với phụ huynh và cộng đồng, sử dụng hiệu quả sự hỗ trợ từ các tổ chức từ thiện nhằm không ngừng cải thiện chất lượng chăm sóc, giáo dục học sinh.Tổ chức rà soát nhu cầu thực tế như  cơ sở vật chất, thiết bị dạy học. Nắm bắt từng hoàn cảnh gia đình học sinh có điều kiện đặc biệt khó khăn,nhu cầu cần thiết từng đối tượng học sinh để có kế hoạch chi tiết thực hiện trong từng giai đoạn trong năm học. Nhân rộng những gương người tốt, việc tốt những thành tích của giáo dục phổ thông Các tổ chức đoàn thể như hội phụ nữ, đoàn thanh niên, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp cùng tham gia làm công tác giáo dục phổ thông. Phát huy vai trò tích cực của Hội khuyến học trong chăm lo quan tâm, động viên khen thưởng giáo viên vượt khó hoàn thành tốt nhiệm vụ, khen thưởng cho học sinh có thành tích trong năm học. Mở rộng các đợt tuyên truyền sâu rộng tới lực lượng phụ huynh, nâng cao nhận thức của cộng đồng về vị trí vai trò của xã hội hóa.

HS lớp 10A4_ Trường Quốc tế Vinschool Hà Nội Tổ chức gian hàng 0 đồng của tại Trường PTDTBT THCS xã Hồng Thái, huyện Văn Lãng

 

Gian hàng 0 đồng của Chi Đoàn Công an huyện Văn Lãng và Tiểu thương chợ Tân Thanh tại Trường PTDTBT THCS xã Hồng Thái, huyện Văn Lãng

Thứ ba, xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch xã hội hoá giáo dục: Nhà trường xây dựng các mối quan hệ cụ thể, phù hợp với nhiều tầng bậc, vai trò của từng lực lượng xã hội trong quá trình phối kết hợp (song ở phương diện nào, Hiệu trưởng nhà trường luôn luôn phải giữ vai trò chính nòng cốt) để huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng xã hội tham gia công tác xã hội hóa giáo dục. Xã hội hóa giáo dục là huy động và tổ chức các lực lượng của toàn xã hội cùng tham gia vào quá trình giáo dục, đồng thời tạo điều kiện để mọi người dân được hưởng thụ các thành quả do hoạt động giáo dục đem lại. Từ đó tạo ra cho được phong trào mọi người học tập suốt đời, cả địa phương thành một “xã hội học tập”. Thực hiện liên kết các lực lượng xã hội hưởng ứng tích cực đối với giáo dục, tập hợp các lực lượng xã hội đóng góp, ủng hộ, tham gia xây dựng môi trường nhà trường, nền nếp giáo dục chăm học sinh bán trú đến các mối quan hệ bên trong nhà trường, quan hệ nhà trường với xã hội để nhà trường thực sự trở thành trung tâm văn hoá, môi trường giáo dục lành mạnh. Thực chất, xã hội hóa giáo dục là tổ chức một hệ thống các hoạt động của một quá trình phối hợp chặt chẽ thường xuyên giữa các cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp…để vận động các tầng lớp nhân dân tham gia đắc lực có hiệu quả vào sự nghiệp giáo dục.Các hình thức phối hợp làm công tác hội hóa giáo dục cũng có những khía cạnh, mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào trình độ, sự tự nguyện, tự giác, khả năng điều kiện riêng của các lực lượng xã hội và tính chất của từng hoạt động xã hội. Muốn công tác xã hội hoá giáo dục thực sự là công việc, là phong trào mang tính tự giác tích cực của các thành viên trong xã hội trong đó có lực lượng phụ huynh. Cần phải chú trọng vai trò của tuyên truyền vận động nâng cao tầm nhận thức cho lực lượng phụ huynh hiểu đầy đủ bản chất của xã hội hoá giáo dục. Đây là lực lượng chính hỗ trợ đắc lực cho nhà trường trong công tác chăm sóc giáo dục học sinh bán trú. Hình thức triển khai kế hoạch với nội dung của nó chủ yếu đi vào việc tuyên truyền bằng mọi cách, qua mọi phương tiện và công cụ, phổ biến các chủ trương, chính sách, nghị quyết về giáo dục phổ thông, củng cố những nhận thức, bồi dưỡng kiến thức, cập nhật thông tin, nắm bắt những hiểu biết mới cần thiết về chăm sóc - Giáo dục học sinh phù hợp với yêu cầu mới của sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của nước ta vào thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Nhận thức, tiếp thu được những nội dung nói trên sẽ mang đến những tri thức, hiểu biết đến các thành viên trong từng gia đình, giúp định hướng đúng đắn, sẵn sàng hành động, xác định rõ trách nhiệm, tham gia một cách tự giác vào việc xây dựng nhà trường.

 

BCH Công Đoàn, Chi Đoàn Sở Công Thương tỉnh Lạng Sơn tặng quà cho HS có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

         Thứ tư, huy động và quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn lực huy động từ sự đóng góp của cha mẹ học sinh các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, nhà hảo tâm. Cùng với sự đầu tư ngân sách của nhà nước đã cải thiện mạnh mẽ điều kiện trường lớp, bổ sung nhiều trang thiết bị hiện đại phục vụ giáo dục, làm chuyển biến rõ nét chất lượng giáo dục phổ thông còn có sự ủng hộ đóng góp của cha mẹ học sinh, các tổ chức, cá nhân có tấm lòng hảo tâm hỗ trợ kinh phí, trang thiết bị phục vụ công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Đó là chủ trương đa dạng hoá nguồn lực cho giáo dục các đơn vị nhà trường: Đó là nguồn lực, vật lực và tài lực. Ngoài chế độ quy định về các khoản thu, các chi hội trưởng hội cha mẹ học sinh các lớp chủ động bàn bạc với ban hội cha mẹ học sinh trong toàn trường, phối hợp đề xuất của ban giám hiệu nhà trường xây dựng quỹ hội. Nhà trường chủ động huy động sự ủng hộ hảo tâm tự nguyện của các phụ huynh bổ sung thêm trang thiết bị cần thiết phục vụ công tác chăm sóc giáo dục học sinh Tổ chức lấy ý kiến trong cuộc họp cha mẹ học sinh đầu năm học, quản lý sử dụng đúng mục đích và công khai minh bạch. Ban giám hiệu nhà trường tham mưu với hội phụ huynh nhà trường xây dựng kế hoạch hoạt động của hội phù hợp với đặc điểm, các hoạt động của nhà trường trong năm học. Hội phụ huynh nhà trường có quy chế, nghị quyết hoạt động của hội gửi tới từng chi hội. Các nội dung hoạt động của hội: Tham gia giám sát các hoạt động chăm sóc – nuôi dưỡng học sinh bán trú, phối kết hợp với nhóm, lớp, nhà trường tổ chức ngày lễ, hội... cho học sinh, thăm hỏi, trợ cấp cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn... không phải chỉ nhằm vào phụ huynh học sinh và trong phụ huynh học sinh không chỉ huy động tiền của, cái chính cần và cần thiết ở phụ huynh là chăm lo việc chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con cái trong gia đình kết hợp thường xuyên với giáo dục nhà trường và xã hội. Song song với huy động nguồn lực cơ sở vật chất cho nhà trường, cần phải quản lý chặt chẽ các nguồn lực cơ sở vật chất là khâu quan trọng nhằm đảm bảo sử dụng hiệu quả cao, tiết kiệm kinh phí cho nhà nước và của phụ huynh. Các nguồn kinh phí phải sử dụng có hiệu quả, các trang thiết bị đã có hoặc không cần thiết thì có biện pháp chấn chỉnh kịp thời, không để tình trạng huy động tràn lan, mua sắm văn phòng phẩm, thiết bị không cần thiết với nhu cầu sử dụng. Phân định rõ trách nhiệm tới từng thành viên trong nhà trường bằng văn bản về việc thu, chi tài chính và sử dụng hiệu quả các nguồn đầu tư. Thực hiện nghiêm túc công tác tổng kết hoạt động xã hội hóa giáo dục cuối năm học, đánh giá những mặt mạnh, đề xuất giải pháp khắc phục các mặt hạn chế để công tác xã hội hóa trong thời gian tới đạt kết quả tốt hơn.

Cùng chuyên mục

Xem thêm
GIỮ NGỌN LỬA TRI THỨC NƠI BIÊN CƯƠNG – QUYẾT TÂM ĐỔI MỚI VÌ TƯƠNG LAI HỌC SINH LẠNG SƠN

GIỮ NGỌN LỬA TRI THỨC NƠI BIÊN CƯƠNG – QUYẾT TÂM ĐỔI MỚI VÌ TƯƠNG LAI HỌC SINH LẠNG SƠN

LỰA CHỌN NGỮ LIỆU ĐỂ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ ĐỊNH KÌ MÔN NGỮ VĂN TỪ NĂM HỌC 2024-2025

KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG  NĂM HỌC 2023-2024

KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG NĂM HỌC 2023-2024

CÔNG TÁC QUẢN LÝ, TỔ CHỨC HỌC SINH THỰC HIỆN TỰ QUẢN  Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ, BÁN TRÚ TRÊN ĐỊA BÀN TÌNH LẠNG SƠN

CÔNG TÁC QUẢN LÝ, TỔ CHỨC HỌC SINH THỰC HIỆN TỰ QUẢN Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ, BÁN TRÚ TRÊN ĐỊA BÀN TÌNH LẠNG SƠN