TIN NỔI BẬT
Bài viết chuyên môn
Sở Giáo dục và Đào tạo Lạng Sơn 1.526

NÂNG CAO NĂNG LỰC CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM CHO GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ, PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ, TRƯỜNG PHỔ THÔNG CÓ HỌC SINH BÁN TRÚ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN

NÂNG CAO NĂNG LỰC CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM CHO GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ, PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ, TRƯỜNG PHỔ THÔNG CÓ HỌC SINH BÁN TRÚ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN Thực hiện kế hoạch 59/KH-UBND ngày 08/3/2023 của UBND tỉnh về thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn năm 2023, nhằm mục đích cung cấp những kiến thức về nhiệm vụ, quyền hạn, năng lực cần có của GVCN; tâm sinh lí lứa tuổi; phương pháp thiết kế và tổ chức các hoạt động liên quan đến công tác chủ nhiệm; cách thức huy động các lực lượng tham gia công tác chủ nhiệm lớp; Nâng cao hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp trong trường học; Phát triển kỹ năng xây dựng kế hoạch chủ nhiệm, tổ chức các hoạt động và tinh thần hợp tác, chia sẻ trong công tác chủ nhiệm lớp. Sở Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) đã tổ chức các lớp tập huấn nâng cao năng lực công tác chủ nhiệm cho CBQL, giáo viên cốt cán các trường PTDTNT, PTDTBT, trường phổ thông có HSBT 2018 tại 6 huyện trên địa bàn tỉnh. Các lớp bồi dưỡng diễn ra từ ngày 13/11 đến 14/11/2023. Tham gia lớp bồi dưỡng, hơn 500 giáo viên của các trường PTDTNT, PTDTBT, các trường PT có học sinh bán trú đã được học tập, bồi dưỡng các nội dung cụ thể: Một số vấn đề lí luận về đặc trưng tâm sinh lí của học sinh các trường PTDTNT, PTDTBT và trường PT có học sinh bán trú; Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp và công tác chủ nhiệm lớp trong bối cảnh đổi mới giáo dục; Công tác chủ nhiệm ở trường PTDTNT, PTDTBT và trường PT có học sinh bán trú; Thực hành một số kĩ năng của giáo viên chủ nhiệm ở trường PTDTNT, PTDTBT và trường PT có học sinh bán trú.Khai mạc lớp bồi dưỡng tại huyện Văn LãngThứ nhất về đặc điểm tâm sinh lý học học sinh Trung học phổ thôngHọc sinh THPT đã đạt đến mức trưởng thành về mặt cơ thể, chấm dứt giai đoạn khủng hoảng của thời kỳ phát dục để chuyển sang thời kỳ ổn định hơn, cân bằng. Sự hoàn thiện về mặt cơ thể như vậy có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý ở tuổi này, dẫn đến những sựthay đổi về mặt xã hội, sự phát triển tự ý thức, tình bạn tình yêu cũng như có mục đích, động cơ học tập rõ rang, học học tập có tính hướng nghiệp và bắt đầu ý thức về cuộc sống tương lai. Đối với học sinh các trường PTDTNT, PTDTBT, trường PT có học sinh bán trú, giáo viên cần lưu ý giáo dục học sinh về: Kiến thức văn hóa dân tộKiến thức về phát triển tâm lý; Hiểu biết và có kĩ năng ứng xử, giao tiếp trong môi trường đa văn hóa; Hiểu biết về quyền và nghĩa vụ và các chính sách ưu tiên, hỗ trợ cho sự phát triển giáo dục vùng DTTS và MN; Nhạy bén và tự ý thức về khác biệt văn hóa; Nhạy bén và phát triển cá nhân; Phân tích và đánh giá;Tạo động lực và khích lệ; Tổ chức hướng dẫn học sinh làm việc nhóm và hợp tác; Quan sát và theo dõi tiến bộ; Kỷ luật tích cực; Giải quyết xung đột; Khuyến khích tự tin và tự tôn; Quản lý lớp học đa dạng; Quản lý thời gian; Quản lý xung đột; Quản lý áp lực; Phân loại và sắp xếp công việc; Tạo động lực học tập; Linh hoạt và thích ứng; Tương tác xã hội; Tận tâm và đam mê; Giao tiếp hiệu quả; Xây dựng mối quan hệ hợp tác với phụ huynh huynh; Huy Động nguồn lực; Lãnh đạo; Phát triển cá nhân; Định hướng và tư vấn nghề nghiệp; Phân biệt và đánh giá tài liệu; Sử dụng các pphuowng pháp giảng dạy đa dạng; Đổi mới và sáng tạo; Ứng dụng công nghệ thông tin; Xây dựng môi trường học tập an toàn; Quan và tạo động lực; Sẵn lòng lắng nghe; Kiên nhẫn và thấu cảm.Thứ hai về công tác chủ nhiệm trong bối cảnh đổi mới giáo dục.Hội nghị lần thứ 8, BCHTW Đảng cộng sản Việt Nam (Khóa XI) đã thông qua Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 về đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.Chương trình GDPT mới được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh. Mục tiêu của chương trình GDPTlà giúp học sinhlàm chủ kiến thức phổ thông, biết vận dụng hiệu quả kiến thức vào đời sống và tự học suốt đời, có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, biết xây dựng và phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội, có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú, nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại.Những năng lực cần có của GVCN đáp ứng yêu cầu CTGDPT 2018: Năng lực tổ chức hoạt động giáo dục theo tiếp cận phát triển năng lực; Năng lực lựa chọn hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động phù hợp để tất cả học sinh đều có cơ hội bình đẳng tham gia vào quá trình rèn luyện; Năng lực truyền cảm hứng, tạo động lực để học sinh tham gia tích cực vào hoạt động giáo dục; Năng lực khích lệ động viên, ghi nhận sự tiến bộ của học sinh, cảm hóa học sinh; Năng lực linh hoạt và giáo dục cá biệt bên cạnh giáo dục thông qua tập thể; Năng lực thiết kế và thực hiện KHGD TNHN.Thứ ba, về công tác giáo viên chủ nhiệm ở các trường PTDTNT, PTDTBT, trường phổ thông có học sinh bán trú.Với tính chất đặc thù, bên cạnh tính phổ thông, còn có tính dân tộc - đối tượng HS là người DTTS đến từ nhiều địa phương khác nhau, HS xa gia đình đến học tập, ăn và ở nội trú, bán trú tại trường, vì vậy công tác chủ nhiệm có những đặc thù và càng nhiều thách thức hơn.HSNT, HSBT ăn, ở tại trường, vì vậy GVCN còn là người thay mặt gia đình HS giáo dục, chăm sóc và bảo vệ các em. Không chỉ dạy các em học mà còn nuôi các em, dạy các em cách sống, nếp sinh hoạt thường ngày.Các thầy cô giáo, đặc biệt là GVCN cần uốn nắn, hướng dẫn cho tình bạn khác giới ở học sinh DTTS trong các trường PTDTNT HSDTBT diễn ra một cách lành mạnh, trong sáng, tuy nhiên sự can thiệp cân phải khéo léo, tế nhị, nếu không sẽ dẫn đến phản ứng tiêu cực và mất lòng tin ở trẻ.Người GVCN cần quan tâm thường xuyên tới lớp của mình, nắm bắt các em như người cha thứ hai của học sinh, dạy dỗ, bảo ban các em.GVCN trong trường PTDTNT, PTDTBT có vai trò rất lớn trong việc nuôi dưỡng, giáo dục nhằm hình thành phẩm chất, năng lực, KNS, giá trị sống cho HS. Phần lớn học sinh trong các trường PTDTNT, HSDTBT coi trường là nhà, vì vậy người GVCN gần như thay mặt gia đình giáo dục, bảo ban, hướng dẫn, định hướng cho học sinh về tác phong, ăn mặc, vệ sinh, phòng bệnh, tự lập trong cuộc sống,...Trong học tập, mặc dù đã học tới THPT, HS DTTS, đặc biệt học sinh thuộc nhóm rất ít người, hoặc những HS sống ở vùng sâu xa thì việc tiếp thu các thuật ngữ, khái niệm trừu tượng, các công thức toán, hóa, lí là những rào cản lớn đối với các em trong việc tiếp thu kiến thức. Hiểu biết về điều này, người GVCN cần trao đổi thường xuyên với GV bộ môn, nắm bắt tình hình học tập của các em để có định hướng động viên hoặc giúp đỡ các em vượt lên khó khăn để học tốt hơn. Có học được, hiểu bài các em mới có thể làm tốt các công việc khác ở lớp, ở trường.Ngoài ra, trong giao tiếp, ngôn từ các em có thể không được chau chuốt mà thường là diễn đạt đơn giản, theo thói quen của tiếng mẹ đẻ, chẳng hạn như: nói trống không, thiếu từ dạ/vâng, thiếu những từ kết nối làm cho câu nói cụt lủn,... Hiểu sâu sắc điều này sẽ giúp cho người GV, đặc biệt GVCN lớp cảm thông với các em hơn, tránh những hiểu lầm hoặc tự ái cho rằng HS nói thế là không lễ phép hoặc không ngoan.GVCN đồng thời cũng là GV bộ môn cần bàn bạc với các GV bộ môn khác lưu ý đến những đặc điểm tư duy của HS DTTS để giúp các em học tập bớt khó khăn, nâng cao nhận thức, Kỹ năng cho sống. Trên cơ sở đó góp phần giáo dục toàn diện cho HSDTTS.GVCN cần biết khích lệ, khuyến khích động viên các em để các em tự tin và hoàn thành nhiệm vụ của người HS. Trong cách sống, cách sinh hoạt, vệ sinh nói chung và vệ sinh cá nhân nói riêng ở nhà của các em mang tính tự nhiên, không theo một khuôn khổ hoặc qui tắc. Vì thế, việc rèn cho HS có được những thói quen và nếp sống có kỉ luật, tự giác là một việc làm đòi hỏi người GVCN phải hết sức kiên trì. Đặc biệt với những HS nhập học đầu cấp học, GVCN cần lưu ý để hướng dẫn các em thực hiện theo những nề nếp, nội qui, vệ sinh, sinh hoạt của lớp, của trường đã đề ra.GVCN cần quan tâm thường xuyên tới lớp của mình, nắm bắt các mối quan hệ cũng như diễn biến tình cảm tâm lí bạn bè để là người mẹ hướng dẫn, bảo ban các em. Ngoài việc quan tâm đến việc giúp HS xây dựng mối hệ bạn bè khi sống tập thể nhà trường, GVCN còn đặc biệt chú ý đến việc tư vấn, hỗ trợ các em trong mối quan hệ giữa HS trai và HS gái. Các em đang tuổi mới lớn, trong khi đó các em lại sống xa gia đình, ở gần nhau, học tập ăn uống sinh hoạt hàng ngày dễ nảy sinh tình cảm nam nữ. Chính vì vậy, GVCN ở trường PTDTNT, HSDTBT cần phải lưu ý đặc điểm này để giúp em xây dựng được mối quan hệ tình cảm trong sáng, lành mạnh, giáo dục giới tính và sức khỏe vị thành niên cho các em.GVCN ở trường PTDTNT, PTDTBT cần chú ý đến đặc điểm đa văn hóa và nhạy cảm văn hóa ở các HS DTTS, cần tìm hiểu văn hóa, phong tục tập quán của HS để việc giao tiếp, giáo dục HS được hiệu quả, tránh những hiểu lầm giữa GVCN và HS, hoặc giữa các HS với nhau, tạo nên một tập thê lớp đoàn kết, tôn trọng lẫn nhau.Thứ tư, một số kĩ năng chuyên biệt của giáo viên chủ nhiệm.- Kĩ năng tổ chức không gian lớp họcTổ chức không gian hay môi trường vật chất cho lớp học bao gồm: đồ đạc. bàn ghế và các trang thiết bị, nhiệt độ, ánh sáng, âm thanh... Các yếu tố này có ảnh hưởng đến sự thoải mái, dễ chịu của học sinh trong quá trình học tập và sinh hoạt ở lớp. Cần phải sắp xếp không gian lớp học và các điều kiện khác sao cho hạn chế tối thiểu sự căng thẳng, tăng cảm giác thoải mái và kích thích tối đa các giác quan. Những công việc cần làm để tổ chức không gian lớp học: Bài trí không gian lớp học; Sắp xếp chỗ ngồi của học sinh.Bên cạnh việc bài trí và sắp xếp lớp học, GV cần chú ý đến các yếu tố khác như đồ dùng trực quan, ánh sáng, âm thanh, nhiệt độ, bầu khí quyển... Những yếu tố này ảnh hưởng đến tầm nhìn của học sinh, đến sự tập trung chú ý nghe và có thể làm cho tâm trạng học sinh uể oải đi hay hưng phấn hơn. GV cô thể điều chỉnh ánh sáng, âm thanh cho phù hợp với học sinh trong lớp học, điều chỉnh chữ viết trên bảng và treo tranh ảnh trực quan sao cho tất cả học sinh đều nhìn rõ...- Kĩ năng xây dựng Nội quy, quy định, chỉ dẫn lớp học Quản lí lớp học tốt phải dựa vào sự hiểu biết của học sinh về những yêu cầu mà thầy cô mong đợi đối với hành vi của họ. Những nội quy, quy định, chỉ dẫn được xây dựng truyền đạt một cách hệ thống, cẩn thận sẽ giúp GV dễ dàng chuyển tài đến học sinh mong muốn của mình dưới dạng hành vĩ, và đảm bảo rằng những quy tắc mà GV đề ra là khả thi và phù hợp.Mục đích của phần này là giúp thầy cô phát triển và lập ra một hệ thống quy định và chỉ dẫn hiệu quả cho lớp học.Việc thực hiện các quy định và chỉ dẫn trong quản lí hành vi học sinh nhằm tạo ra một môi trường học tập thuận lợi cho học sinh.Kết quả nghiên cứu cho biết, nội quy và thủ tục trong tuần đầu tiên thu hút được số người đi học đều hơn đáng kể trong suốt năm học (từ 88% đến 93% người đi học đều). Nhiều nghiên cứu khác càng khẳng định tầm quan trọng của việc tích cực dạy nội quy lớp học vào đầu năm học.Tại các lớp bồi dưỡng, báo cáo viên các huyện đã đổi mới phương pháp bồi dưỡng theo hướng tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chú trọng thực hành, gắn lý thuyết với thực tiễn, tăng cường tổ chức sáng tạo hoạt động nhóm. Học viên tích cực, chủ động tham gia bài giảng và phát huy năng lực, sáng tạo thực hiện nhiệm vụ và hoàn thành các sản phẩm bồi dưỡng. Tổ chức thực hành một số kĩ năng chuyên biệt của giáo viên chủ nhiệm tại các lớp bồi dưỡngSở GDĐT đã kiểm tra, giám sát kế hoạch thực hiện bồi dưỡng của các đơn vị. Đã dự giờ lên lớp của báo cáo viên, định hướng, giải đáp các khó khăn, vướng mắc tại các lớp bồi dưỡng. Trong thời gian tới, Sở GDĐT yêu cầu các báo cáo viên tiếp tục đẩy mạnh đổi mới phương pháp; các phòng GDĐT đôn đốc thực hiện công tác giáo viên chủ nhiệm tại các đơn vị đảm bảo hiệu quả, đáp ứng các yêu cầu đổi mới giáo dục và nâng cao phẩm chất, năng lực học sinh.Có thể khẳng định, bồi dưỡng nâng cao năng lực công tác chủ nhiệm có ý nghĩa thiết thực trong lộ trình đổi mới Chương trình GDPT 2018 tại tỉnh Lạng Sơn; giúp giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đặc biệt là công tác chủ nhiệm, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh toàn tỉnh.

NÂNG CAO NĂNG LỰC CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM CHO GIÁO VIÊN

CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ, PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ, TRƯỜNG PHỔ THÔNG CÓ HỌC SINH BÁN TRÚ

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN

 

Thực hiện kế hoạch 59/KH-UBND ngày 08/3/2023 của UBND tỉnh về thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn năm 2023, nhằm mục đích cung cấp những kiến thức về nhiệm vụ, quyền hạn, năng lực cần có của GVCN; tâm sinh lí lứa tuổi; phương pháp thiết kế và tổ chức các hoạt động liên quan đến công tác chủ nhiệm; cách thức huy động các lực lượng tham gia công tác chủ nhiệm lớp; Nâng cao hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp trong trường học; Phát triển kỹ năng xây dựng kế hoạch chủ nhiệm, tổ chức các hoạt động và tinh thần hợp tác, chia sẻ trong công tác chủ nhiệm lớp. Sở Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) đã tổ chức các lớp tập huấn nâng cao năng lực công tác chủ nhiệm cho CBQL, giáo viên cốt cán các trường PTDTNT, PTDTBT, trường phổ thông có HSBT 2018 tại 6 huyện trên địa bàn tỉnh. Các lớp bồi dưỡng diễn ra từ ngày 13/11 đến 14/11/2023.

Tham gia lớp bồi dưỡng, hơn 500 giáo viên của các trường PTDTNT, PTDTBT, các trường PT có học sinh bán trú đã được học tập, bồi dưỡng các nội dung cụ thể: Một số vấn đề lí luận về đặc trưng tâm sinh lí của học sinh các trường PTDTNT, PTDTBT và trường PT có học sinh bán trú; Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp và công tác chủ nhiệm lớp trong bối cảnh đổi mới giáo dục; Công tác chủ nhiệm ở trường PTDTNT, PTDTBT và trường PT có học sinh bán trú; Thực hành một số kĩ năng của giáo viên chủ nhiệm ở trường PTDTNT, PTDTBT và trường PT có học sinh bán trú.

Khai mạc lớp bồi dưỡng tại huyện Văn Lãng

Thứ nhất về đặc điểm tâm sinh lý học học sinh Trung học phổ thông

Học sinh THPT  đã đạt đến mức trưởng thành về mặt cơ thể, chấm dứt giai đoạn  khủng hoảng của thời kỳ phát dục để chuyển sang thời kỳ ổn định hơn, cân bằng. Sự hoàn thiện về mặt cơ thể như vậy có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý ở tuổi này, dẫn đến những sựthay đổi về mặt xã hội, sự phát triển tự ý thức, tình bạn tình yêu cũng như có mục đích, động cơ học tập rõ rang, học học tập có tính hướng nghiệp và bắt đầu ý thức về cuộc sống tương lai. Đối với học sinh các trường PTDTNT, PTDTBT, trường PT có học sinh bán trú, giáo viên cần lưu ý giáo dục học sinh về: Kiến thức văn hóa dân tộKiến thức về phát triển tâm lý; Hiểu biết và có kĩ năng ứng xử, giao tiếp trong môi trường đa văn hóa; Hiểu biết về quyền và nghĩa vụ và các chính sách ưu tiên, hỗ trợ cho sự phát triển giáo dục vùng DTTS và MN; Nhạy bén và tự ý thức về khác biệt văn hóa; Nhạy bén và phát triển cá nhân; Phân tích và đánh giá;Tạo  động lực và khích lệ; Tổ chức hướng dẫn học sinh làm việc nhóm và hợp tác; Quan sát và theo dõi tiến bộ; Kỷ luật tích cực; Giải quyết xung đột; Khuyến khích tự tin và tự tôn; Quản  lý lớp học đa dạng; Quản  lý thời gian; Quản lý xung đột; Quản  lý  áp lực; Phân loại và sắp xếp công việc; Tạo động lực học tập; Linh hoạt và thích ứng; Tương  tác xã hội; Tận tâm và đam mê; Giao  tiếp hiệu quả; Xây dựng mối quan hệ hợp tác với phụ huynh huynh; Huy Động nguồn lực; Lãnh đạo; Phát triển cá nhân; Định hướng và tư vấn nghề nghiệp; Phân biệt và đánh giá tài liệu; Sử dụng các pphuowng pháp giảng dạy đa dạng; Đổi mới và sáng tạo; Ứng dụng công nghệ thông tin; Xây dựng môi trường học tập an toàn; Quan và tạo động lực; Sẵn lòng lắng nghe; Kiên nhẫn và thấu cảm.

Thứ hai về công tác chủ nhiệm trong bối cảnh đổi mới giáo dục.

Hội nghị lần thứ 8, BCHTW Đảng cộng sản Việt Nam (Khóa XI) đã thông qua Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 về đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Chương trình GDPT mới được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh. Mục tiêu của chương trình GDPTlà giúp học sinhlàm chủ kiến thức phổ thông, biết vận dụng hiệu quả kiến thức vào đời sống và tự học suốt đời, có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, biết xây dựng và phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội, có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú, nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại.

Những năng lực cần có của GVCN đáp ứng yêu cầu CTGDPT 2018: Năng lực tổ chức hoạt động giáo dục theo tiếp cận phát triển năng lực; Năng lực lựa chọn hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động phù hợp để tất cả học sinh đều có cơ hội bình đẳng tham gia vào quá trình rèn luyện; Năng lực truyền cảm hứng, tạo động lực để học sinh tham gia tích cực vào hoạt động giáo dục; Năng lực khích lệ động viên, ghi nhận sự tiến bộ của học sinh, cảm hóa học sinh; Năng lực linh hoạt và giáo dục cá biệt bên cạnh giáo dục thông qua tập thể; Năng lực thiết kế và thực hiện KHGD TNHN.

Thứ ba, về công tác giáo viên chủ nhiệm ở các trường PTDTNT, PTDTBT, trường phổ thông có học sinh bán trú.

Với tính chất đặc thù, bên cạnh tính phổ thông, còn có tính dân tộc - đối tượng HS là người DTTS đến từ nhiều địa phương khác nhau, HS xa gia đình đến học tập, ăn và ở nội trú, bán trú tại trường, vì vậy công tác chủ nhiệm có những đặc thù và càng nhiều thách thức hơn.

HSNT, HSBT ăn, ở tại trường, vì vậy GVCN còn là người thay mặt gia đình HS giáo dục, chăm sóc và bảo vệ các em. Không chỉ dạy các em học mà còn nuôi các em, dạy các em cách sống, nếp sinh hoạt thường ngày.

Các thầy cô giáo, đặc biệt là GVCN cần uốn nắn, hướng dẫn cho tình bạn khác giới ở học sinh DTTS trong các trường PTDTNT HSDTBT diễn ra một cách lành mạnh, trong sáng, tuy nhiên sự can thiệp cân phải khéo léo, tế nhị, nếu không sẽ dẫn đến phản ứng tiêu cực và mất lòng tin ở trẻ.

Người GVCN cần quan tâm thường xuyên tới lớp của mình, nắm bắt các em như người cha thứ hai của học sinh, dạy dỗ, bảo ban các em.

GVCN trong trường PTDTNT, PTDTBT có vai trò rất lớn trong việc nuôi dưỡng, giáo dục nhằm hình thành phẩm chất, năng lực, KNS, giá trị sống cho HS. Phần lớn học sinh trong các trường PTDTNT, HSDTBT coi trường là nhà, vì vậy người GVCN gần như thay mặt gia đình giáo dục, bảo ban, hướng dẫn, định hướng cho học sinh về tác phong, ăn mặc, vệ sinh, phòng bệnh, tự lập trong cuộc sống,...

Trong học tập, mặc dù đã học tới THPT, HS DTTS, đặc biệt học sinh thuộc nhóm rất ít người, hoặc những HS sống ở vùng sâu xa thì việc tiếp thu các thuật ngữ, khái niệm trừu tượng, các công thức toán, hóa, lí là những rào cản lớn đối với các em trong việc tiếp thu kiến thức. Hiểu biết về điều này, người GVCN cần trao đổi thường xuyên với GV bộ môn, nắm bắt tình hình học tập của các em để có định hướng động viên hoặc giúp đỡ các em vượt lên khó khăn để học tốt hơn. Có học được, hiểu bài các em mới có thể làm tốt các công việc khác ở lớp, ở trường.

Ngoài ra, trong giao tiếp, ngôn từ các em có thể không được chau chuốt mà thường là diễn đạt đơn giản, theo thói quen của tiếng mẹ đẻ, chẳng hạn như: nói trống không, thiếu từ dạ/vâng, thiếu những từ kết nối làm cho câu nói cụt lủn,... Hiểu sâu sắc điều này sẽ giúp cho người GV, đặc biệt GVCN lớp cảm thông với các em hơn, tránh những hiểu lầm hoặc tự ái cho rằng HS nói thế là không lễ phép hoặc không ngoan.

GVCN đồng thời cũng là GV bộ môn cần bàn bạc với các GV bộ môn khác lưu ý đến những đặc điểm tư duy của HS DTTS để giúp các em học tập bớt khó khăn, nâng cao nhận thức, Kỹ năng cho sống. Trên cơ sở đó góp phần giáo dục toàn diện cho HSDTTS.

GVCN cần biết khích lệ, khuyến khích động viên các em để các em tự tin và hoàn thành nhiệm vụ của người HS. Trong cách sống, cách sinh hoạt, vệ sinh nói chung và vệ sinh cá nhân nói riêng ở nhà của các em mang tính tự nhiên, không theo một khuôn khổ hoặc qui tắc. Vì thế, việc rèn cho HS có được những thói quen và nếp sống có kỉ luật, tự giác là một việc làm đòi hỏi người GVCN phải hết sức kiên trì. Đặc biệt với những HS nhập học đầu cấp học, GVCN cần lưu ý để hướng dẫn các em thực hiện theo những nề nếp, nội qui, vệ sinh, sinh hoạt của lớp, của trường đã đề ra.

GVCN cần quan tâm thường xuyên tới lớp của mình, nắm bắt các mối quan hệ cũng như diễn biến tình cảm tâm lí bạn bè để là người mẹ hướng dẫn, bảo ban các em. Ngoài việc quan tâm đến việc giúp HS xây dựng mối hệ bạn bè khi sống tập thể nhà trường, GVCN còn đặc biệt chú ý đến việc tư vấn, hỗ trợ các em trong mối quan hệ giữa HS trai và HS gái. Các em đang tuổi mới lớn, trong khi đó các em lại sống xa gia đình, ở gần nhau, học tập ăn uống sinh hoạt hàng ngày dễ nảy sinh tình cảm nam nữ. Chính vì vậy, GVCN ở trường PTDTNT, HSDTBT cần phải lưu ý đặc điểm này để giúp em xây dựng được mối quan hệ tình cảm trong sáng, lành mạnh, giáo dục giới tính và sức khỏe vị thành niên cho các em.

GVCN ở trường PTDTNT, PTDTBT cần chú ý đến đặc điểm đa văn hóa và nhạy cảm văn hóa ở các HS DTTS, cần tìm hiểu văn hóa, phong tục tập quán của HS để việc giao tiếp, giáo dục HS được hiệu quả, tránh những hiểu lầm giữa GVCN và HS, hoặc giữa các HS với nhau, tạo nên một tập thê lớp đoàn kết, tôn trọng lẫn nhau.

Thứ tư, một số kĩ năng chuyên biệt của giáo viên chủ nhiệm.

- Kĩ năng tổ chức không gian lớp học

Tổ chức không gian hay môi trường vật chất cho lớp học bao gồm: đồ đạc. bàn ghế và các trang thiết bị, nhiệt độ, ánh sáng, âm thanh... Các yếu tố này có ảnh hưởng đến sự thoải mái, dễ chịu của học sinh trong quá trình học tập và sinh hoạt ở lớp. Cần phải sắp xếp không gian lớp học và các điều kiện khác sao cho hạn chế tối thiểu sự căng thẳng, tăng cảm giác thoải mái và kích thích tối đa các giác quan.

 Những công việc cần làm để tổ chức không gian lớp học: Bài trí không gian lớp học; Sắp xếp chỗ ngồi của học sinh.

Bên cạnh việc bài trí và sắp xếp lớp học, GV cần chú ý đến các yếu tố khác như đồ dùng trực quan, ánh sáng, âm thanh, nhiệt độ, bầu khí quyển... Những yếu tố này ảnh hưởng đến tầm nhìn của học sinh, đến sự tập trung chú ý nghe và có thể làm cho tâm trạng học sinh uể oải đi hay hưng phấn hơn. GV cô thể điều chỉnh ánh sáng, âm thanh cho phù hợp với học sinh trong lớp học, điều chỉnh chữ viết trên bảng và treo tranh ảnh trực quan sao cho tất cả học sinh đều nhìn rõ...

- Kĩ năng xây dựng Nội quy, quy định, chỉ dẫn lớp học

Quản lí lớp học tốt phải dựa vào sự hiểu biết của học sinh về những yêu cầu mà thầy cô mong đợi đối với hành vi của họ. Những nội quy, quy định, chỉ dẫn được xây dựng truyền đạt một cách hệ thống, cẩn thận sẽ giúp GV dễ dàng chuyển tài đến học sinh mong muốn của mình dưới dạng hành vĩ, và đảm bảo rằng những quy tắc mà GV đề ra là khả thi và phù hợp.

Mục đích của phần này là giúp thầy cô phát triển và lập ra một hệ thống quy định và chỉ dẫn hiệu quả cho lớp học.

Việc thực hiện các quy định và chỉ dẫn trong quản lí hành vi học sinh nhằm tạo ra một môi trường học tập thuận lợi cho học sinh.

Kết quả nghiên cứu cho biết, nội quy và thủ tục trong tuần đầu tiên thu hút được số người đi học đều hơn đáng kể trong suốt năm học (từ 88% đến 93% người đi học đều). Nhiều nghiên cứu khác càng khẳng định tầm quan trọng của việc tích cực dạy nội quy lớp học vào đầu năm học.

Tại các lớp bồi dưỡng, báo cáo viên các huyện đã đổi mới phương pháp bồi dưỡng theo hướng tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chú trọng thực hành, gắn lý thuyết với thực tiễn, tăng cường tổ chức sáng tạo hoạt động nhóm. Học viên tích cực, chủ động tham gia bài giảng và phát huy năng lực, sáng tạo thực hiện nhiệm vụ và hoàn thành các sản phẩm bồi dưỡng.

 

 

 

 

 

Tổ chức thực hành một số kĩ năng chuyên biệt của giáo viên chủ nhiệm tại các lớp bồi dưỡng

Sở GDĐT đã kiểm tra, giám sát kế hoạch thực hiện bồi dưỡng của các đơn vị. Đã dự giờ lên lớp của báo cáo viên, định hướng, giải đáp các khó khăn, vướng mắc tại các lớp bồi dưỡng.

Trong thời gian tới, Sở GDĐT yêu cầu các báo cáo viên tiếp tục đẩy mạnh đổi mới phương pháp; các phòng GDĐT đôn đốc thực hiện công tác giáo viên chủ nhiệm tại các đơn vị đảm bảo hiệu quả, đáp ứng các yêu cầu đổi mới giáo dục và nâng cao phẩm chất, năng lực học sinh.

Có thể khẳng định, bồi dưỡng nâng cao năng lực công tác chủ nhiệm có ý nghĩa thiết thực trong lộ trình đổi mới Chương trình GDPT 2018 tại tỉnh Lạng Sơn; giúp giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đặc biệt là công tác chủ nhiệm, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh toàn tỉnh.

Cùng chuyên mục

Xem thêm
Tỉnh Lạng Sơn có 2 giải pháp đạt giải thưởng về chuyển đổi số

Tỉnh Lạng Sơn có 2 giải pháp đạt giải thưởng về chuyển đổi số

Hội thi giáo viên chủ nhiệm lớp giỏi cấp THCS tỉnh Lạng Sơn năm học 2025-2026: Lan tỏa tinh thần đổi mới, trách nhiệm và yêu thương

Hội thi giáo viên chủ nhiệm lớp giỏi cấp THCS tỉnh Lạng Sơn năm học 2025-2026: Lan tỏa tinh thần đổi mới, trách nhiệm và yêu thương

HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CÁC MÔN KHXH  TỈNH LẠNG SƠN NĂM HỌC 2025–2026- Dấu ấn đổi mới, lan tỏa khát vọng nâng cao chất lượng giáo dục trong kỷ nguyên số

HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CÁC MÔN KHXH TỈNH LẠNG SƠN NĂM HỌC 2025–2026- Dấu ấn đổi mới, lan tỏa khát vọng nâng cao chất lượng giáo dục trong kỷ nguyên số

TỔ CHỨC DẠY HỌC 2 BUỔI/NGÀY CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN

TỔ CHỨC DẠY HỌC 2 BUỔI/NGÀY CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN