MỘT SỐ ĐIỂM PHÁT TRIỂN, ĐIỀU CHỈNH CHƯƠNG TRÌNH MÔN LỊCH SỬ LỚP 10 CẤP THPT Môn Lịch sử là môn học có sứ mệnh giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực lịch sử, thành phần của năng lực khoa học đồng thời góp phần hình thành và phát triển những phẩm chất chủ yếu và năng lực chung được xác định trong chương trình tổng thể. Môn Lịch sử giữ vai trò chủ đạo trong việc giáo dục lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, giúp học sinh nhận thức được các bài học lịch sử và vận dụng các bài học lịch sử đề giải quyết các vấn đề của thực tế cuộc sống.Thực hiện Nghị quyết 63/2022/QH15 ngày 16/6/2022 của Quốc hội về môn Lịch sử, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) đã ban hành Thông tư 13/2022/TT-BGDĐT ngày 13/8/2022 về sửa đổi, bổ sung một số nội dung trong Chương trình GDPT ban hành kềm theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ GDĐT (TT13) theo đó môn Lịch sử từ một môn học tự chọn đã trở thành môn học bắt buộc đối với cấp THPT với thời lượng 52 tiết/lớp/năm học (phần bắt buộc được lựa chọn từ các chủ đề, các nội dung cốt lõi của Chương trình môn Lịch sử 2018); giữ nguyên phần lựa chọn là phần chuyên đề học tập Lịch sử 35 tiết/lớp/năm học của Chương trình GDPT 2018. Việc giảm từ 70 tiết (theo CTGDPT 2018) xuống 52 tiết (theo TT 13) được thực hiện theo phương thức:Giảm một số chủ đề mang tính quá chuyên sâu, chuyên đề khó, nặng tính hàn lâm không phù hợp với nhận thức của học sinh đại trà, mà không ảnh hưởng đến kết cấu cũng như tính hệ thống của Chương trình GDPT 2018 (giảm 3 chủ đề trong tổng số 22 chủ đề của Chương trình GDPT 2018)Giảm nội dung trong một số chủ đề mà kiến thức rộng hoặc đã được học kĩ ở cấp THCS,vừa giảm được nội dung kiến thức thời lượng mà không ảnh hưởng đến các nội dung cốt lõi của chủ đề, bảo đảm học sinh vẫn có những hiểu biết cơ bản về kiến thức của chủ đề đó, qua đó phát triển phẩm chất và năng lực học sinh.Điều chỉnh một số khái niệm, từ ngữ cho phù hợp với đối tượng học sinh đại trà. Bổ sung, hoàn thiện, cân đối bảo đảm sự thống nhất giữa nội dung và yêu cầu cần đạt của một số chủ đề còn cao so với trình độ nhận thức của học sinh đại trà.Tỷ lệ % thời lượng dành cho mỗi mạch kiến thức như sau:Mạch nội dungLớp 10Lớp 11Lớp 12Chủ đề định hướng nghề nghiệp11% Lịch sử thế giới25%32%22%Lịch sử Việt Nam 34%38%48%Đánh giá định kỳ10%10%10%Thực hành lịch sử20%20%20% Trong đó lưu ý đến một số điểu chỉnh, giảm bớt, bổ sung các chủ đề ở từng khối lớp như sau:Đối với lớp 10, tuân thủ nguyên tắc không làm thay đổi mục tiêu của giáo dục hai giai đoạn, không làm xáo trộn quá lớn chương trình tổng thể GDPT 2018, đảm bảo để học sinh và giáo viên vẫn sử dụng tốt sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác đã được biên soạn, cụ thể:Chủ đề: "LỊCH SỬ SỬ HỌC" - Khái niệm: “Lịch sử hiện thực và nhận thức lịch sử” sửa đổi thành “Hiện thực lịch sử và lịch sử được con người nhận thức”. Lý do là để hiểu khái niệm này chính xác hơn. Khái niệm “ hiện thực lịch sử” là chỉ hiện thực khách quan, đã xảy ra trong quá khứ, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người. Còn khái niệm “Lịch sử hiện thực” có thể hiểu “lịch sử mang tính hiện thực”, không phải hiện thực đã xảy ra. Tương tự như vậy, khái niệm “nhận thức” thường được hiểu là quá trình nhận thức của con người, “đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” (Từ điển Bách khoa VN, tập 3 tr. 239). Như vậy khái niệm “nhận thức lịch sử” có thể được hiểu là quá trình nhận thức của con người về lịch sử (khác với tri thức lịch sử mà con người nhận thức được). Tuy nhiên, ở đây cần làm cho HS hiểu Lịch sử là gì, chứ không phải là quá trình nhận thức về lịch sử. Do đó, dùng khái niệm “lịch sử được con người nhận thức” sẽ chính xác hơn. Từ đó, Lịch sử sẽ được hiểu với 2 nghĩa:Là hiện thực lịch sử đã xảy ra trong quá khứ, khách quan với ý thức của con người; Là lịch sử được con người nhận thức, tức là những hiện thực khách quan đã xảy ra trong quá khứ, được con người nhận thức và ghi nhớ, chép lại... - Khái niệm “Sử học”: Lược bỏ bớt một số nội dung và yêu cầu cần đạt như ‘Một số nguyên tắc cơ bản của Sử học”, “Khái quát về các nguồn sử liệu”, “một số phương pháp cơ bản của sử học”, chỉ giữ lại khái niêm, đối tượng nghiên cứu và nhiệm vụ của sử học. Vì những nội dung này đi sâu vào các lĩnh vực chuyên ngành của khoa học lịch sử, chỉ phù hợp với những HS chuyên KHXH và không cần thiết đối với HS đại trà. Lược bỏ đoạn “thông qua ví dụ cụ thể” đối với yêu cầu cần đạt “phân biệt được hiện thực lịch sử và lịch sử được con người nhận thức” cho gọn và dễ hơn.- Tri thức lịch sử và cuộc sống Tinh giản, lược bớt các nội dung “Vai trò, ý nghĩa của tri thức lịch sử”. Vì những nội dung này rộng và chuyên sâu. Đồng thời HS sẽ được học nội dung này trong mục “Vai trò của Sử học”Yêu cầu cần đạt đối với nội dung “Học tập và khám phá lịch sử suốt đời”:giảm từ “giải thích” xuống “nêu được” sự cần thiết phải học tập lịch sử suốt đời. Chủ đề: “VAI TRÒ CỦA SỬ HỌC”- Sử học với các lĩnh vực khoa học khác (gồm Sử học với các ngành khoa học xã hội và nhân văn, Sử học với các môn khoa học tự nhiên và công nghệ). Giảm bớt toàn bộ nội dung và yêu cầu cần đạt của mục này, vì các nội dung này quá chuyên sâu, không phù hợp với nhận thức của học sinh đại trà, đồng thời để giảm số tiết trong chương trình lớp 10.- Sử học với một số lĩnh vực, ngành nghề hiện đại Cắt, giảm toàn bộ nội dung và yêu cầu cần đạt của mục “Sử học với sự phát triển công nghiệp văn hóa”. - Mục “Sử học với công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, di sản thiên nhiên: Yêu cầu cần đạt giảm từ “Phân tích” thành “Nêu được” trong “Nêu được mối quan hệ giữa sử học với công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, di sản thiên nhiên”; thêm cụm từ “Có ý thức” trong yêu cầu cần đạt thứ hai, thành “Có ý thức vận động các bạn và mọi người xung quanh cùng tham gia bảo vệ các di sản văn hóa, di sản thiên nhiên ở địa phương”. - Mục “Sử học với phát triển du lịch”: Bỏ cụm từ “Thông qua ví dụ cụ thể” trong yêu cầu cần đạt “Giải thích được vai trò của lịch sử và văn hóa đối với sự phát triển du lịch”; Giảm từ “phân tích” thành “Nêu được” và bỏ cụm từ “du lịch mang lại nguồn lực hỗ trợ cho việc bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa” trong yêu cầu cần đạt “Nêu được tác động của du lịch với công tác bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa”.Chủ đề: "MỘT SỐ NỀN VĂN MINH THẾ GIỚI CỔ - TRUNG ĐẠI”.- Khái niệm văn minh thế giớiCắt, giảm toàn bộ nội dung và yêu cầu cần đạt mục “Khái quát lịch sử văn minh thế giới”. Vì nội dung này rộng và quá sâu, không phù hợp với học sinh đại trà, đồng thời để giảm số tiết học. Mục “Khái niệm văn minh”: bỏ cụm từ “ ở mức cơ bản” trong yêu cầu cần đạt “phân biệt được khái niệm văn minh, văn hóa”.- Một số nền văn minh phương ĐôngCắt giảm cả nội dung và yêu cầu cần đạt về "cơ sở hình thành" của các nền văn minh "Văn minh Ai Cập", "Văn minh Trung Hoa", "Văn minh Ấn Độ" vì những nội dung này đã học trong phần thông sử ở lớp 6 THCS.Sửa "Những thành tựu cơ bản" thành "Những thành tựu tiêu biểu" của các nền văn minh Ai Cập, Trung Hoa và Ấn ĐộBổ sung thêm "Ý nghĩa" trong cột " Nội dung" của của các nền văn minh Ai Cập, Trung Hoa và Ấn ĐộSửa các yêu cầu cần đạt của các nền văn minh Ai Cập, Trung Hoa, Ấn Độ thành “Nêu được những thành tựu tiêu biểu và ý nghĩa của văn minh...” Vì HS không chỉ cần biết một số thành tựu tiêu biểu của mỗi nền văn minh, mà còn cần hiểu được giá trị của những thành tựu đó đối với nền văn minh của quốc gia nói riêng và văn minh thế giới nói chung. Đây cũng là một biểu hiện của năng lực nhận thức và tư duy lịch sử.- Một số nền văn minh phương Tây: Cắt giảm cả nội dung và yêu cầu cần đạt về “Cơ sở hình thành” của các nền văn minh “Hy Lạp – La Mã” và “Bối cảnh lịch sử” của “Văn minh thời Phục Hưng”. Vì những nội dung này HS đã được học trong phần thông sử ở lớp 6 và lớp 7 THCS, đồng thời để giảm số tiết học ở lớp 10. Sửa “Những thành tựu cơ bản” thành “Những thành tựu tiêu biểu” của các nền văn minh Hy Lạp – La Mã và Văn minh thời Phục Hưng. Vì HS có thể chỉ cần lựa chọn được một số thành tựu tiêu biểu của mỗi nền văn minh mà không cần nêu được toàn bộ các thành tựu cơ bản. Bổ sung thêm “Ý nghĩa” trong cột “Nội dung” của các nền văn minh Hy Lạp – La Mã và Văn minh thời Phục Hưng.Sửa các yêu cầu cần đạt của các nền văn minh Hy Lạp – La Mã và Văn minh thời Phục Hưng thành “Nêu được những thành tựu tiêu biểu và ý nghĩa của văn minh...” Vì HS không chỉ cần biết một số thành tựu tiêu biểu của mỗi nền văn minh, mà còn cần hiểu được giá trị của những thành tựu đó đối với nền văn minh của quốc gia nói riêng và văn minh thế giới nói chung. Đây cũng là một biểu hiện của năng lực nhận thức và tư duy lịch sử. Chủ đề: “ CÁC CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP TRONG LỊCH SỬ THẾ GIỚI”- Cách mạng công nghiệp thời cận đại Cắt giảm cả nội dung và yêu cầu cần đạt về “Bối cảnh lịch sử” của các cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và lần thứ hai. Vì nội dung này HS đã được học trong phần thông sử ở lớp 8 THCS và để giảm số tiết học ở lớp 10, đồng thời để giảm số tiết học ở lớp 10. Sửa yêu cầu cần đạt về thành tựu của cả hai cuộc Cách mạng lần thứ nhất và hai thành: “Nêu được những thành tựu cơ bản của Cách mạng công nghiệp ...(lần thứ nhất, lần thứ hai). Sửa yêu cầu cần đạt về ý nghĩa của các cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và lần thứ hai thành: “Nêu được ý nghĩa của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và lần thứ hai về kinh tế, xã hội, văn hóa.- Cách mạng công nghiệp thời hiện đại Cắt giảm cả nội dung và yêu cầu cần đạt về “Bối cảnh lịch sử” của các cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ ba và lần thứ tư (Cách mạng 4.0). Vì các nội dung này HS sẽ được học ở lớp 9 THCS và trong các chủ đề khác ở các lớp 11 và 12 (như “Chủ nghĩa xã hội từ năm 1917 đến nay” và “ Thế giới trong và sau Chiến tranh lạnh”), đồng thời để giảm số tiết học ở lớp 10. Sửa yêu cầu cần đạt về thành tựu của hai cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ ba và lần thứ tư thành: “Nêu được những thành tựu cơ bản của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ (ba, tư) cho ngắn gọn hơn. Sửa yêu cầu cần đạt về ý nghĩa của Cách mạng công nghiệp lần thứ ba và lần thứ tư thành “Nêu được ý nghĩa của Cách mạng công nghiệp lần thứ ba và lần thứ tư về kinh tế, xã hội, văn hóa”; Cắt giảm yêu cầu cần đạt thứ 2 “Phân tích được tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ ba và lần thứ tư đối với xã hội, văn hóa”. Chủ đề: “VĂN MINH ĐÔNG NAM Á”- Thêm cụm từ “thời cổ - trung đại” vào tiêu đề của chủ đề, thành “Văn minh Đông Nam Á thời cổ - trung đại” cho chính xác hơn.- Cắt giảm toàn bộ nội dung và yêu cầu cần đạt của mục “Cơ sở hình thành văn minh Đông Nam Á”. Vì nội dung này HS đã được học ở lớp 6 THCS đồng thời để giảm số tiết học ở lớp 10. - Hành trình phát triển và thành tựu của văn minh Đông Nam Á Xóa gạch đầu dòng “Các thời kì phát triển của văn minh Đông Nam Á” phía dưới tiêu đề “Hành trình phát triển của văn minh Đông Nam Á” vì trùng lặp. Bỏ cụm từ “trên đường thời gian” trong yêu cầu cần đạt gạch đầu dòng thứ 2, sửa thành “Trình bày được các thời kì phát triển của văn minh Đông Nam Á”.+ Sửa yêu cầu cần đạt về thành tựu của văn minh Đông Nam Á thành “Nêu được một số thành tựu tiêu biểu về tín ngưỡng, văn tự và văn học, kiến trúc và điêu khắc”. Chủ đề: “MỘT SỐ NỀN VĂN MINH TRÊN ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM (TRƯỚC NĂM 1858)”Một số nền văn minh cổ trên đất nước Việt Nam Sửa tên “Văn minh Sông Hồng” thành “Văn minh Văn Lang - Âu Lạc”. Lý do: Thống nhất việc gọi tên nền văn minh theo tên quốc gia (tương tự như văn minh Phù Nam hay Champa). Sửa yêu cầu cần đạt về cơ sở hình thành văn minh Văn Lang – Âu Lạc: bỏ cụm từ “điều kiện tự nhiên, cơ sở xã hội” và sửa thành “Nêu được cơ sở hình thành nền văn minh Văn Lang – Âu Lạc”. Sửa yêu cầu cần đạt về thành tựu của các nền văn minh Văn Lang – Âu Lạc, Champa và Phù Nam: thay dấu hai chấm bằng chữ “về” và bỏ dấu ba chấm ở cuối câu. Sửa thành “Nêu/Trình bày được những thành tựu tiêu biểu của văn minh (Văn Lang – Âu Lạc, Champa, Phù Nam) về đời sống vật chất, đời sống tinh thần, tổ chức xã hội, nhà nước”.Văn minh Đại Việt Sửa yêu cầu cần đạt về cơ sở hình thành văn minh Đại Việt: thay từ “phân tích” thành “trình bày” được và thêm ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ. Sửa thành: “Trình bày được cơ sở hình thành văn minh Đại Việt về sự kế thừa văn minh Văn Lang – Âu Lạc, nền độc lập tự chủ của đất nước, tiếp thu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, Âns Độ”. Bỏ cụm từ “trên đường thời gian” trong yêu cầu cần đạt “Nêu được quá trình phát triển của văn minh Đại Việt”.+ Chỉnh sửa nội dung và yêu cầu cần đạt của tiểu mục “Ý nghĩa của văn minh Đại Việt trong lịch sử dân tộc Việt Nam”: cắt giảm nội dung và yêu cầu cần đạt về “Ưu điểm và hạn chế của văn minh Đại Việt” vì đây là yêu cầu cao đối với HS đại trà; Bỏ gạch đầu dòng thứ hai: “Ý nghĩa của nên văn minh Đại Việt trong lịch sử dân tộc Việt Nam” ở cột nội dung vì trùng tiêu đề ở trên. Chủ đề: “CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM”Các dân tộc trên đất nước Việt Nam:Cắt giảm nội dung và yêu cầu cần đạt về “Khái niệm ngữ hệ và việc phân chia tộc người theo ngữ hệ”. Vì đây là nội dung còn nhiều tranh luận và khó đối với HS đại trà.- Khái quát về đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Bỏ cụm từ “sản xuất nông nghiệp, ngành nghề thủ công” trong yêu cầu cần đạt “Trình bày được nét chính về đời sống vật chất của cộng đồng các dân tộc Việt Nam” Bỏ cụm từ “sự đa dạng về văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng” trong yêu cầu cần đạt “Nêu được nét chính về đời sống tinh thần của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”.Khối đoàn kết dân tộc trong lịch sử Việt Nam Giảm mức độ từ “Phân tích được” xuống thành “Nêu được” trong các yêu cầu cần đạt của mục này. Diễn đạt lại yêu cầu cần đạt của nội dung “Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước hiện nay” cho chính xác hơn. Sửa thành: “Nêu được quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước về chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển”. Chuyển nội dung “quốc phòng” lên trước “an ninh” trong yêu cầu cần đạt “Nêu được nội dung cơ bản trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước hiện nay về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh”. THỰC HÀNH LỊCH SỬ Diễn đạt lại cho đầy đủ, ngắn gọn và chính xác hơn. c) Thời lượng thực hiện chương trình Mạch nội dung Thời lượng dự kiếnChủ đề định hướng nghề nghiệp:Lịch sử và Sử họcVai trò của Sử học10%Một số nền văn minh thế giới thời cổ - trung đại8%Các cuộc Cách mạng công nghiệp trong lịch sử thế giới11%Văn minh Đông Nam Á thời cổ - trung đại6%Một số nền văn minh trên đất nước Việt Nam (trước năm 1858)24%Cộng đồng các dân tộc Việt Nam11%Ôn tập và đánh giá định kì10%Thực hành lịch sử20% Một số điểm cần lưu ý khi dạy – học Thứ nhất: Lớp 10 là lớp đầu cấp, năm đầu của giai đoạn định hướng nghề nghiệp và năm nay lớp 10 cũng là năm đầu tiên thực hiện chương trình. Vì vậy, khác với các lớp 11, 12, trong chương trình lớp 10 có 2 chủ đề định hướng nghề nghiệp, nhằm giúp HS hiểu được một cách cơ bản nhất Lịch sử là gì? khoa học lịch sử nghiên cứu những gì và nghiên cứu, phục dựng lại lịch sử như thế nào? Những tri thức lịch sử giúp được gì trong cuộc sống? Vì sao mọi người đều cần có tri thức lịch sử, cần học tập và khám phá lịch sử suốt đời? Đó là những nội dung và mục tiêu mà 2 chủ đề này hướng tới. Tuy nhiên, với HS đại trà thì những kiến thức này là quá nặng. Vì vậy, 2 chủ đề này đã được tinh giản đến mức tối đa và khi dạy 2 chủ đề này GV chỉ cần giúp HS hiểu rõ một số nội dung chính sau đây:- Khái niệm Lịch sử là gì? HS đã được tiếp cận sơ bộ khái niệm này ở lớp 6 THCS, nhưng ở lớp 10 được hiểu cao hơn với 2 nội dung: Hiện thực lịch sử là những hiện thực khách quan đã xảy ra trong quá khứ, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người. Đó là những sự kiện lịch sử. Sự kiện lịch sử chỉ xảy ra một lần, trong một không gian, một hoàn cảnh lịch sử cụ thể, vào một thời điêm cụ thể.Những hiện thực LS đó được phản ánh vào trong ý thức của con người, được con người ghi nhớ, kể lại thành những câu truyện LS, hay ghi chép lại, chụp ảnh lại, viết lại thành những bài, những sách LS...truyền bá đi nhiều nơi. Những câu truyện, những cuốn sách đó cũng là LS, nhưng là LS được con người nhận thức. Giữa hiện thực lịch sử và lịch sử được con người nhận thức luôn có khoảng cách, bởi vì, dù có cố gắng đến đâu thì con người cũng không thể nhận thức và tái hiện hoàn toàn đầy đủ hiện thực lịch sử đúng như nó đã xảy ra. Điều đó giải thích vì sao về cùng một biến cố, một hiện tượng hay giai đoạn LS nào đó có thể có một hoặc nhiều bài viết, sách báo khác nhau và các nhà sử học vẫn luôn luôn tìm tòi, nghiên cứu để tiếp cận với hiện thực LS đã xảy ra trong quá khứ.Sử học là một khoa học nghiên cứu về quá khứ của loài người. Cần lưu ý rằng LS có thể được hiểu là tất cả những gì đã xảy ra trong quá khứ (SGK lớp 6 bộ Kết nối tri thức với cuộc sống,tr.9) nhưng đối tượng nghiên cứu của Sử học chỉ là quá khứ của LOÀI NGƯỜI, có thể là của một cá nhân, một dòng họ, một nhóm, một cộng đồng hay một quốc gia, một khu vực hoặc toàn thể nhân loại. Từ đó, có thể suy ra chức năng và nhiệm vụ của Sử học chỉ là nghiên cứu, phục dựng lại hiện thực LS của con người một cách trung thực, khách quan nhất có thể, rút ra bản chất và quy luật vận động của LS, góp phần truyền bá những giá trị tốt đẹp trong LS, giáo dục đạo đức, tinh thần dân tộc, lòng yêu nước và những phẩm chất nhân ái, lòng khoan dung...của con người, đúc rút những bài học kinh nghiệm từ trong quá khứ để dự báo và xây dựng tương lai của đất nước và nhân loại.- Tri thức lịch sử và cuộc sống Trong mục này đã cắt giảm nội dung “vai trò, ý nghĩa của tri thức lịch sử” (do cần giảm thời lượng), nhưng khi dạy về sự cần thiết của việc học tập, khám phá lịch sử suốt đời, GV vẫn cần biết vể vai trò, ý nghĩa của tri thức LS nói chung.Tri thức LS là toàn bộ những hiểu biết của con người về LS, được hình thành thông qua các hoạt động trải nghiệm, hoạt động giáo dục hay hoạt động học tập của mỗi người. Tri thức LS có thể bao hàm cả các kí ức LS, các tri thức cảm tính và tri thức khoa học. Như vậy, tri thức LS không phải chỉ là những kiến thức LS trong sách vở, mà bao gồm toàn bộ những hiểu biết của chúng ta về quá khứ, hiện tại và tương lai. Trong hoạt động hàng ngày chúng ta luôn cần biết và vận dụng những kinh nghiệm của quá khứ để suy nghĩ và sáng tạo ra cái mới. Một nhà toán học cũng phải biết và vận dụng những phát minh toán học trong quá khứ. Một người nông dân cũng phải biết và vận dụng những kinh nghiệm làm ruộng của cha ông. Đó chính là những tri thức LS. Học tập và tìm hiểu LS đưa lại cho chúng ta những cơ hội nghề nghiệp mới thú vị và hiệu quả... Từ đó chúng ta hiểu vì sao việc tìm hiểu, khám phá lịch sử suốt đời vừa là nhu cầu tự thân vừa là những hoạt động tự nhiên của tất cả mọi người trong cuộc sống hàng ngày. Thứ hai: Do phải giảm tải về nội dung và giảm số tiết dạy (từ 70 tiết xuống 52 tiết/năm) trong khi không làm xáo trộn quá nhiều Chương trình năm 2018 đã ban hành và SGk đã biên soạn xong, Ban Phát triển chương trình đành phải cắt giảm một cách cơ học nhiều nội dung của các chủ đề. Điều này dẫn tới không thể tránh khỏi sự phá vỡ tính logic và tính hệ thống của mỗi chủ đề. Ví dụ, khi dạy về lịch sử văn minh mà không nói gì về cơ sở hình thành hay bối cảnh lịch sử...thì không chỉ thiếu tính logic mà còn không thể hiểu được cặn kẽ những thành tựu văn minh và giá trị của nó đối với văn minh khu vực và thế giới nói chung. Điều kiện tự nhiên, quá trình phát triển lịch sử của quốc gia, khu vực và quá trình giao lưu, ảnh hưởng văn hóa...là những nhân tố không chỉ tạo nên thành tựu mà còn tạo nên bản sắc riêng của mỗi nền văn minh.Mặc dù những yếu tố này HS đã được tiếp cận ở mức độ nhất định nào đó ở các lớp cấp THCS, nhưng khi giảng dạy về thành tựu văn minh GV cũng nên và cần nhắc lại sơ qua về cơ sở hình thành để các em nhớ lại những gì đã được tiếp nhận bằng cách a) dành ra vài phút để nhắc lại cơ sở hình thành trước khi nói tới thành tựu văn minh; hoặc b) khi trình bày tới từng thành tựu văn minh thì có thể liên hệ tới cơ sở nào dẫn tới sự hình thành thành tựu văn minh đó. Một số chỉnh sửa khác liên quan tới những cơ sở hình thành hay thành tựu văn minh cụ thể. Trong chương trình năm 2018, một số mục hoặc yêu cầu cần đạt về cơ sở hình thành hoặc thành tựu văn minh có nêu cụ thể các nhân tố hay lĩnh vực văn hóa, nhưng trong chương trình chỉnh sửa đã cắt bỏ các lĩnh vực cụ thể này. Ví dụ, trong yêu cầu cần đạt về cơ sở hình thành văn minh Văn Lang – Âu Lạc của chương trình năm 2018 có yêu cầu HS “Nêu được cơ sở hình thành văn minh Văn Lang – Âu Lạc: điệu kiện tự nhiên, cơ sở xã hội...” thì trong chương trình chỉnh sửa đã gạch bỏ hết các nhân tố cụ thể này và chỉ còn “Nêu được cơ sở hình thành văn minh Văn Lang – Âu Lạc”. Điều này vừa tránh được sai sót (thiếu cơ sở kinh tế) vừa tạo điều kiện cho GV tùy hoàn cảnh cụ thể mà có thể đề cập tới các nhân tố cụ thể nào. Vì vậy khi giảng dạy các nội dung này GV nên tham khảo các SGK và tùy theo tình hình cụ thể mà đề ra yêu cầu.Thứ ba: Vì chương trình chỉnh sửa này dùng cho HS các lớp đại trà, có trình độ và sự quan tâm khác nhau tới môn lịch sử, nên đại đa số các yêu cầu cần đạt trong chương trình 2018 đều được giảm đi một cấp. Ví dụ, trong chương trình năm 2018 yêu cầu HS “phân tích được” hay “giải thích được” thì trong chương trình chỉnh sửa chỉ yêu cầu HS “nêu được” hoặc “trình bày được”... Tuy nhiên, những từ khóa của câu “lệnh” này chỉ là mức tối thiểu để đánh giá năng lực HS. Tùy hoàn cảnh cụ thể của trường, lớp và trình độ của HS mà GV có thể đặt ra yêu cầu cao hơn hoặc khác đi khi tiến hành các hoạt động dạy học trên lớp.
MỘT SỐ ĐIỂM PHÁT TRIỂN, ĐIỀU CHỈNH CHƯƠNG TRÌNH MÔN
LỊCH SỬ LỚP 10 CẤP THPT
Môn Lịch sử là môn học có sứ mệnh giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực lịch sử, thành phần của năng lực khoa học đồng thời góp phần hình thành và phát triển những phẩm chất chủ yếu và năng lực chung được xác định trong chương trình tổng thể. Môn Lịch sử giữ vai trò chủ đạo trong việc giáo dục lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, giúp học sinh nhận thức được các bài học lịch sử và vận dụng các bài học lịch sử đề giải quyết các vấn đề của thực tế cuộc sống.
Thực hiện Nghị quyết 63/2022/QH15 ngày 16/6/2022 của Quốc hội về môn Lịch sử, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) đã ban hành Thông tư 13/2022/TT-BGDĐT ngày 13/8/2022 về sửa đổi, bổ sung một số nội dung trong Chương trình GDPT ban hành kềm theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ GDĐT (TT13) theo đó môn Lịch sử từ một môn học tự chọn đã trở thành môn học bắt buộc đối với cấp THPT với thời lượng 52 tiết/lớp/năm học (phần bắt buộc được lựa chọn từ các chủ đề, các nội dung cốt lõi của Chương trình môn Lịch sử 2018); giữ nguyên phần lựa chọn là phần chuyên đề học tập Lịch sử 35 tiết/lớp/năm học của Chương trình GDPT 2018.
Việc giảm từ 70 tiết (theo CTGDPT 2018) xuống 52 tiết (theo TT 13) được thực hiện theo phương thức:
Giảm một số chủ đề mang tính quá chuyên sâu, chuyên đề khó, nặng tính hàn lâm không phù hợp với nhận thức của học sinh đại trà, mà không ảnh hưởng đến kết cấu cũng như tính hệ thống của Chương trình GDPT 2018 (giảm 3 chủ đề trong tổng số 22 chủ đề của Chương trình GDPT 2018)
Giảm nội dung trong một số chủ đề mà kiến thức rộng hoặc đã được học kĩ ở cấp THCS,vừa giảm được nội dung kiến thức thời lượng mà không ảnh hưởng đến các nội dung cốt lõi của chủ đề, bảo đảm học sinh vẫn có những hiểu biết cơ bản về kiến thức của chủ đề đó, qua đó phát triển phẩm chất và năng lực học sinh.
Điều chỉnh một số khái niệm, từ ngữ cho phù hợp với đối tượng học sinh đại trà. Bổ sung, hoàn thiện, cân đối bảo đảm sự thống nhất giữa nội dung và yêu cầu cần đạt của một số chủ đề còn cao so với trình độ nhận thức của học sinh đại trà.
Tỷ lệ % thời lượng dành cho mỗi mạch kiến thức như sau:
Mạch nội dung | Lớp 10 | Lớp 11 | Lớp 12 |
Chủ đề định hướng nghề nghiệp | 11% | | |
Lịch sử thế giới | 25% | 32% | 22% |
Lịch sử Việt Nam | 34% | 38% | 48% |
Đánh giá định kỳ | 10% | 10% | 10% |
Thực hành lịch sử | 20% | 20% | 20% |
Trong đó lưu ý đến một số điểu chỉnh, giảm bớt, bổ sung các chủ đề ở từng khối lớp như sau:
Đối với lớp 10, tuân thủ nguyên tắc không làm thay đổi mục tiêu của giáo dục hai giai đoạn, không làm xáo trộn quá lớn chương trình tổng thể GDPT 2018, đảm bảo để học sinh và giáo viên vẫn sử dụng tốt sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác đã được biên soạn, cụ thể:
Chủ đề: "LỊCH SỬ SỬ HỌC"
- Khái niệm: “Lịch sử hiện thực và nhận thức lịch sử” sửa đổi thành “Hiện thực lịch sử và lịch sử được con người nhận thức”.
Lý do là để hiểu khái niệm này chính xác hơn. Khái niệm “ hiện thực lịch sử” là chỉ hiện thực khách quan, đã xảy ra trong quá khứ, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người. Còn khái niệm “Lịch sử hiện thực” có thể hiểu “lịch sử mang tính hiện thực”, không phải hiện thực đã xảy ra. Tương tự như vậy, khái niệm “nhận thức” thường được hiểu là quá trình nhận thức của con người, “đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” (Từ điển Bách khoa VN, tập 3 tr. 239). Như vậy khái niệm “nhận thức lịch sử” có thể được hiểu là quá trình nhận thức của con người về lịch sử (khác với tri thức lịch sử mà con người nhận thức được). Tuy nhiên, ở đây cần làm cho HS hiểu Lịch sử là gì, chứ không phải là quá trình nhận thức về lịch sử. Do đó, dùng khái niệm “lịch sử được con người nhận thức” sẽ chính xác hơn. Từ đó, Lịch sử sẽ được hiểu với 2 nghĩa:
Là hiện thực lịch sử đã xảy ra trong quá khứ, khách quan với ý thức của con người;
Là lịch sử được con người nhận thức, tức là những hiện thực khách quan đã xảy ra trong quá khứ, được con người nhận thức và ghi nhớ, chép lại...
- Khái niệm “Sử học”: Lược bỏ bớt một số nội dung và yêu cầu cần đạt như ‘Một số nguyên tắc cơ bản của Sử học”, “Khái quát về các nguồn sử liệu”, “một số phương pháp cơ bản của sử học”, chỉ giữ lại khái niêm, đối tượng nghiên cứu và nhiệm vụ của sử học.
Vì những nội dung này đi sâu vào các lĩnh vực chuyên ngành của khoa học lịch sử, chỉ phù hợp với những HS chuyên KHXH và không cần thiết đối với HS đại trà. Lược bỏ đoạn “thông qua ví dụ cụ thể” đối với yêu cầu cần đạt “phân biệt được hiện thực lịch sử và lịch sử được con người nhận thức” cho gọn và dễ hơn.
- Tri thức lịch sử và cuộc sống
Tinh giản, lược bớt các nội dung “Vai trò, ý nghĩa của tri thức lịch sử”. Vì những nội dung này rộng và chuyên sâu. Đồng thời HS sẽ được học nội dung này trong mục “Vai trò của Sử học”
Yêu cầu cần đạt đối với nội dung “Học tập và khám phá lịch sử suốt đời”:giảm từ “giải thích” xuống “nêu được” sự cần thiết phải học tập lịch sử suốt đời.
Chủ đề: “VAI TRÒ CỦA SỬ HỌC”
- Sử học với các lĩnh vực khoa học khác (gồm Sử học với các ngành khoa học xã hội và nhân văn, Sử học với các môn khoa học tự nhiên và công nghệ). Giảm bớt toàn bộ nội dung và yêu cầu cần đạt của mục này, vì các nội dung này quá chuyên sâu, không phù hợp với nhận thức của học sinh đại trà, đồng thời để giảm số tiết trong chương trình lớp 10.
- Sử học với một số lĩnh vực, ngành nghề hiện đại
Cắt, giảm toàn bộ nội dung và yêu cầu cần đạt của mục “Sử học với sự phát triển công nghiệp văn hóa”.
- Mục “Sử học với công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, di sản thiên nhiên: Yêu cầu cần đạt giảm từ “Phân tích” thành “Nêu được” trong “Nêu được mối quan hệ giữa sử học với công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, di sản thiên nhiên”; thêm cụm từ “Có ý thức” trong yêu cầu cần đạt thứ hai, thành “Có ý thức vận động các bạn và mọi người xung quanh cùng tham gia bảo vệ các di sản văn hóa, di sản thiên nhiên ở địa phương”.
- Mục “Sử học với phát triển du lịch”: Bỏ cụm từ “Thông qua ví dụ cụ thể” trong yêu cầu cần đạt “Giải thích được vai trò của lịch sử và văn hóa đối với sự phát triển du lịch”; Giảm từ “phân tích” thành “Nêu được” và bỏ cụm từ “du lịch mang lại nguồn lực hỗ trợ cho việc bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa” trong yêu cầu cần đạt “Nêu được tác động của du lịch với công tác bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa”.
Chủ đề: "MỘT SỐ NỀN VĂN MINH THẾ GIỚI CỔ - TRUNG ĐẠI”.
- Khái niệm văn minh thế giới
Cắt, giảm toàn bộ nội dung và yêu cầu cần đạt mục “Khái quát lịch sử văn minh thế giới”. Vì nội dung này rộng và quá sâu, không phù hợp với học sinh đại trà, đồng thời để giảm số tiết học.
Mục “Khái niệm văn minh”: bỏ cụm từ “ ở mức cơ bản” trong yêu cầu cần đạt “phân biệt được khái niệm văn minh, văn hóa”.
- Một số nền văn minh phương Đông
Cắt giảm cả nội dung và yêu cầu cần đạt về "cơ sở hình thành" của các nền văn minh "Văn minh Ai Cập", "Văn minh Trung Hoa", "Văn minh Ấn Độ" vì những nội dung này đã học trong phần thông sử ở lớp 6 THCS.
Sửa "Những thành tựu cơ bản" thành "Những thành tựu tiêu biểu" của các nền văn minh Ai Cập, Trung Hoa và Ấn Độ
Bổ sung thêm "Ý nghĩa" trong cột " Nội dung" của của các nền văn minh Ai Cập, Trung Hoa và Ấn Độ
Sửa các yêu cầu cần đạt của các nền văn minh Ai Cập, Trung Hoa, Ấn Độ thành “Nêu được những thành tựu tiêu biểu và ý nghĩa của văn minh...” Vì HS không chỉ cần biết một số thành tựu tiêu biểu của mỗi nền văn minh, mà còn cần hiểu được giá trị của những thành tựu đó đối với nền văn minh của quốc gia nói riêng và văn minh thế giới nói chung. Đây cũng là một biểu hiện của năng lực nhận thức và tư duy lịch sử.
- Một số nền văn minh phương Tây:
Cắt giảm cả nội dung và yêu cầu cần đạt về “Cơ sở hình thành” của các nền văn minh “Hy Lạp – La Mã” và “Bối cảnh lịch sử” của “Văn minh thời Phục Hưng”. Vì những nội dung này HS đã được học trong phần thông sử ở lớp 6 và lớp 7 THCS, đồng thời để giảm số tiết học ở lớp 10.
Sửa “Những thành tựu cơ bản” thành “Những thành tựu tiêu biểu” của các nền văn minh Hy Lạp – La Mã và Văn minh thời Phục Hưng. Vì HS có thể chỉ cần lựa chọn được một số thành tựu tiêu biểu của mỗi nền văn minh mà không cần nêu được toàn bộ các thành tựu cơ bản.
Bổ sung thêm “Ý nghĩa” trong cột “Nội dung” của các nền văn minh Hy Lạp – La Mã và Văn minh thời Phục Hưng.
Sửa các yêu cầu cần đạt của các nền văn minh Hy Lạp – La Mã và Văn minh thời Phục Hưng thành “Nêu được những thành tựu tiêu biểu và ý nghĩa của văn minh...” Vì HS không chỉ cần biết một số thành tựu tiêu biểu của mỗi nền văn minh, mà còn cần hiểu được giá trị của những thành tựu đó đối với nền văn minh của quốc gia nói riêng và văn minh thế giới nói chung. Đây cũng là một biểu hiện của năng lực nhận thức và tư duy lịch sử.
Chủ đề: “ CÁC CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP TRONG LỊCH SỬ THẾ GIỚI”
- Cách mạng công nghiệp thời cận đại
Cắt giảm cả nội dung và yêu cầu cần đạt về “Bối cảnh lịch sử” của các cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và lần thứ hai. Vì nội dung này HS đã được học trong phần thông sử ở lớp 8 THCS và để giảm số tiết học ở lớp 10, đồng thời để giảm số tiết học ở lớp 10.
Sửa yêu cầu cần đạt về thành tựu của cả hai cuộc Cách mạng lần thứ nhất và hai thành: “Nêu được những thành tựu cơ bản của Cách mạng công nghiệp ...(lần thứ nhất, lần thứ hai).
Sửa yêu cầu cần đạt về ý nghĩa của các cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và lần thứ hai thành: “Nêu được ý nghĩa của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và lần thứ hai về kinh tế, xã hội, văn hóa.
- Cách mạng công nghiệp thời hiện đại
Cắt giảm cả nội dung và yêu cầu cần đạt về “Bối cảnh lịch sử” của các cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ ba và lần thứ tư (Cách mạng 4.0). Vì các nội dung này HS sẽ được học ở lớp 9 THCS và trong các chủ đề khác ở các lớp 11 và 12 (như “Chủ nghĩa xã hội từ năm 1917 đến nay” và “ Thế giới trong và sau Chiến tranh lạnh”), đồng thời để giảm số tiết học ở lớp 10.
Sửa yêu cầu cần đạt về thành tựu của hai cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ ba và lần thứ tư thành: “Nêu được những thành tựu cơ bản của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ (ba, tư) cho ngắn gọn hơn.
Sửa yêu cầu cần đạt về ý nghĩa của Cách mạng công nghiệp lần thứ ba và lần thứ tư thành “Nêu được ý nghĩa của Cách mạng công nghiệp lần thứ ba và lần thứ tư về kinh tế, xã hội, văn hóa”; Cắt giảm yêu cầu cần đạt thứ 2 “Phân tích được tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ ba và lần thứ tư đối với xã hội, văn hóa”.
Chủ đề: “VĂN MINH ĐÔNG NAM Á”
- Thêm cụm từ “thời cổ - trung đại” vào tiêu đề của chủ đề, thành “Văn minh Đông Nam Á thời cổ - trung đại” cho chính xác hơn.
- Cắt giảm toàn bộ nội dung và yêu cầu cần đạt của mục “Cơ sở hình thành văn minh Đông Nam Á”. Vì nội dung này HS đã được học ở lớp 6 THCS đồng thời để giảm số tiết học ở lớp 10.
- Hành trình phát triển và thành tựu của văn minh Đông Nam Á
Xóa gạch đầu dòng “Các thời kì phát triển của văn minh Đông Nam Á” phía dưới tiêu đề “Hành trình phát triển của văn minh Đông Nam Á” vì trùng lặp.
Bỏ cụm từ “trên đường thời gian” trong yêu cầu cần đạt gạch đầu dòng thứ 2, sửa thành “Trình bày được các thời kì phát triển của văn minh Đông Nam Á”.
+ Sửa yêu cầu cần đạt về thành tựu của văn minh Đông Nam Á thành “Nêu được một số thành tựu tiêu biểu về tín ngưỡng, văn tự và văn học, kiến trúc và điêu khắc”.
Chủ đề: “MỘT SỐ NỀN VĂN MINH TRÊN ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM (TRƯỚC NĂM 1858)”
Một số nền văn minh cổ trên đất nước Việt Nam
Sửa tên “Văn minh Sông Hồng” thành “Văn minh Văn Lang - Âu Lạc”. Lý do: Thống nhất việc gọi tên nền văn minh theo tên quốc gia (tương tự như văn minh Phù Nam hay Champa).
Sửa yêu cầu cần đạt về cơ sở hình thành văn minh Văn Lang – Âu Lạc: bỏ cụm từ “điều kiện tự nhiên, cơ sở xã hội” và sửa thành “Nêu được cơ sở hình thành nền văn minh Văn Lang – Âu Lạc”.
Sửa yêu cầu cần đạt về thành tựu của các nền văn minh Văn Lang – Âu Lạc, Champa và Phù Nam: thay dấu hai chấm bằng chữ “về” và bỏ dấu ba chấm ở cuối câu. Sửa thành “Nêu/Trình bày được những thành tựu tiêu biểu của văn minh (Văn Lang – Âu Lạc, Champa, Phù Nam) về đời sống vật chất, đời sống tinh thần, tổ chức xã hội, nhà nước”.
Văn minh Đại Việt
Sửa yêu cầu cần đạt về cơ sở hình thành văn minh Đại Việt: thay từ “phân tích” thành “trình bày” được và thêm ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ. Sửa thành: “Trình bày được cơ sở hình thành văn minh Đại Việt về sự kế thừa văn minh Văn Lang – Âu Lạc, nền độc lập tự chủ của đất nước, tiếp thu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, Âns Độ”.
Bỏ cụm từ “trên đường thời gian” trong yêu cầu cần đạt “Nêu được quá trình phát triển của văn minh Đại Việt”.
+ Chỉnh sửa nội dung và yêu cầu cần đạt của tiểu mục “Ý nghĩa của văn minh Đại Việt trong lịch sử dân tộc Việt Nam”: cắt giảm nội dung và yêu cầu cần đạt về “Ưu điểm và hạn chế của văn minh Đại Việt” vì đây là yêu cầu cao đối với HS đại trà; Bỏ gạch đầu dòng thứ hai: “Ý nghĩa của nên văn minh Đại Việt trong lịch sử dân tộc Việt Nam” ở cột nội dung vì trùng tiêu đề ở trên.
Chủ đề: “CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM”
Các dân tộc trên đất nước Việt Nam:
Cắt giảm nội dung và yêu cầu cần đạt về “Khái niệm ngữ hệ và việc phân chia tộc người theo ngữ hệ”. Vì đây là nội dung còn nhiều tranh luận và khó đối với HS đại trà.
- Khái quát về đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Bỏ cụm từ “sản xuất nông nghiệp, ngành nghề thủ công” trong yêu cầu cần đạt “Trình bày được nét chính về đời sống vật chất của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”
Bỏ cụm từ “sự đa dạng về văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng” trong yêu cầu cần đạt “Nêu được nét chính về đời sống tinh thần của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”.
Khối đoàn kết dân tộc trong lịch sử Việt Nam
Giảm mức độ từ “Phân tích được” xuống thành “Nêu được” trong các yêu cầu cần đạt của mục này.
Diễn đạt lại yêu cầu cần đạt của nội dung “Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước hiện nay” cho chính xác hơn. Sửa thành: “Nêu được quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước về chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển”.
Chuyển nội dung “quốc phòng” lên trước “an ninh” trong yêu cầu cần đạt “Nêu được nội dung cơ bản trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước hiện nay về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh”.
THỰC HÀNH LỊCH SỬ
Diễn đạt lại cho đầy đủ, ngắn gọn và chính xác hơn.
c) Thời lượng thực hiện chương trình
Mạch nội dung | Thời lượng dự kiến |
Chủ đề định hướng nghề nghiệp: - Lịch sử và Sử học
- Vai trò của Sử học
| 10% |
Một số nền văn minh thế giới thời cổ - trung đại | 8% |
Các cuộc Cách mạng công nghiệp trong lịch sử thế giới | 11% |
Văn minh Đông Nam Á thời cổ - trung đại | 6% |
Một số nền văn minh trên đất nước Việt Nam (trước năm 1858) | 24% |
Cộng đồng các dân tộc Việt Nam | 11% |
Ôn tập và đánh giá định kì | 10% |
Thực hành lịch sử | 20% |
Một số điểm cần lưu ý khi dạy – học
Thứ nhất: Lớp 10 là lớp đầu cấp, năm đầu của giai đoạn định hướng nghề nghiệp và năm nay lớp 10 cũng là năm đầu tiên thực hiện chương trình. Vì vậy, khác với các lớp 11, 12, trong chương trình lớp 10 có 2 chủ đề định hướng nghề nghiệp, nhằm giúp HS hiểu được một cách cơ bản nhất Lịch sử là gì? khoa học lịch sử nghiên cứu những gì và nghiên cứu, phục dựng lại lịch sử như thế nào? Những tri thức lịch sử giúp được gì trong cuộc sống? Vì sao mọi người đều cần có tri thức lịch sử, cần học tập và khám phá lịch sử suốt đời? Đó là những nội dung và mục tiêu mà 2 chủ đề này hướng tới. Tuy nhiên, với HS đại trà thì những kiến thức này là quá nặng. Vì vậy, 2 chủ đề này đã được tinh giản đến mức tối đa và khi dạy 2 chủ đề này GV chỉ cần giúp HS hiểu rõ một số nội dung chính sau đây:
- Khái niệm Lịch sử là gì? HS đã được tiếp cận sơ bộ khái niệm này ở lớp 6 THCS, nhưng ở lớp 10 được hiểu cao hơn với 2 nội dung:
Hiện thực lịch sử là những hiện thực khách quan đã xảy ra trong quá khứ, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người. Đó là những sự kiện lịch sử. Sự kiện lịch sử chỉ xảy ra một lần, trong một không gian, một hoàn cảnh lịch sử cụ thể, vào một thời điêm cụ thể.
Những hiện thực LS đó được phản ánh vào trong ý thức của con người, được con người ghi nhớ, kể lại thành những câu truyện LS, hay ghi chép lại, chụp ảnh lại, viết lại thành những bài, những sách LS...truyền bá đi nhiều nơi. Những câu truyện, những cuốn sách đó cũng là LS, nhưng là LS được con người nhận thức.
Giữa hiện thực lịch sử và lịch sử được con người nhận thức luôn có khoảng cách, bởi vì, dù có cố gắng đến đâu thì con người cũng không thể nhận thức và tái hiện hoàn toàn đầy đủ hiện thực lịch sử đúng như nó đã xảy ra. Điều đó giải thích vì sao về cùng một biến cố, một hiện tượng hay giai đoạn LS nào đó có thể có một hoặc nhiều bài viết, sách báo khác nhau và các nhà sử học vẫn luôn luôn tìm tòi, nghiên cứu để tiếp cận với hiện thực LS đã xảy ra trong quá khứ.
Sử học là một khoa học nghiên cứu về quá khứ của loài người. Cần lưu ý rằng LS có thể được hiểu là tất cả những gì đã xảy ra trong quá khứ (SGK lớp 6 bộ Kết nối tri thức với cuộc sống,tr.9) nhưng đối tượng nghiên cứu của Sử học chỉ là quá khứ của LOÀI NGƯỜI, có thể là của một cá nhân, một dòng họ, một nhóm, một cộng đồng hay một quốc gia, một khu vực hoặc toàn thể nhân loại. Từ đó, có thể suy ra chức năng và nhiệm vụ của Sử học chỉ là nghiên cứu, phục dựng lại hiện thực LS của con người một cách trung thực, khách quan nhất có thể, rút ra bản chất và quy luật vận động của LS, góp phần truyền bá những giá trị tốt đẹp trong LS, giáo dục đạo đức, tinh thần dân tộc, lòng yêu nước và những phẩm chất nhân ái, lòng khoan dung...của con người, đúc rút những bài học kinh nghiệm từ trong quá khứ để dự báo và xây dựng tương lai của đất nước và nhân loại.
- Tri thức lịch sử và cuộc sống
Trong mục này đã cắt giảm nội dung “vai trò, ý nghĩa của tri thức lịch sử” (do cần giảm thời lượng), nhưng khi dạy về sự cần thiết của việc học tập, khám phá lịch sử suốt đời, GV vẫn cần biết vể vai trò, ý nghĩa của tri thức LS nói chung.
Tri thức LS là toàn bộ những hiểu biết của con người về LS, được hình thành thông qua các hoạt động trải nghiệm, hoạt động giáo dục hay hoạt động học tập của mỗi người. Tri thức LS có thể bao hàm cả các kí ức LS, các tri thức cảm tính và tri thức khoa học. Như vậy, tri thức LS không phải chỉ là những kiến thức LS trong sách vở, mà bao gồm toàn bộ những hiểu biết của chúng ta về quá khứ, hiện tại và tương lai. Trong hoạt động hàng ngày chúng ta luôn cần biết và vận dụng những kinh nghiệm của quá khứ để suy nghĩ và sáng tạo ra cái mới. Một nhà toán học cũng phải biết và vận dụng những phát minh toán học trong quá khứ. Một người nông dân cũng phải biết và vận dụng những kinh nghiệm làm ruộng của cha ông. Đó chính là những tri thức LS. Học tập và tìm hiểu LS đưa lại cho chúng ta những cơ hội nghề nghiệp mới thú vị và hiệu quả... Từ đó chúng ta hiểu vì sao việc tìm hiểu, khám phá lịch sử suốt đời vừa là nhu cầu tự thân vừa là những hoạt động tự nhiên của tất cả mọi người trong cuộc sống hàng ngày.
Thứ hai: Do phải giảm tải về nội dung và giảm số tiết dạy (từ 70 tiết xuống 52 tiết/năm) trong khi không làm xáo trộn quá nhiều Chương trình năm 2018 đã ban hành và SGk đã biên soạn xong, Ban Phát triển chương trình đành phải cắt giảm một cách cơ học nhiều nội dung của các chủ đề. Điều này dẫn tới không thể tránh khỏi sự phá vỡ tính logic và tính hệ thống của mỗi chủ đề. Ví dụ, khi dạy về lịch sử văn minh mà không nói gì về cơ sở hình thành hay bối cảnh lịch sử...thì không chỉ thiếu tính logic mà còn không thể hiểu được cặn kẽ những thành tựu văn minh và giá trị của nó đối với văn minh khu vực và thế giới nói chung. Điều kiện tự nhiên, quá trình phát triển lịch sử của quốc gia, khu vực và quá trình giao lưu, ảnh hưởng văn hóa...là những nhân tố không chỉ tạo nên thành tựu mà còn tạo nên bản sắc riêng của mỗi nền văn minh.
Mặc dù những yếu tố này HS đã được tiếp cận ở mức độ nhất định nào đó ở các lớp cấp THCS, nhưng khi giảng dạy về thành tựu văn minh GV cũng nên và cần nhắc lại sơ qua về cơ sở hình thành để các em nhớ lại những gì đã được tiếp nhận bằng cách a) dành ra vài phút để nhắc lại cơ sở hình thành trước khi nói tới thành tựu văn minh; hoặc b) khi trình bày tới từng thành tựu văn minh thì có thể liên hệ tới cơ sở nào dẫn tới sự hình thành thành tựu văn minh đó.
Một số chỉnh sửa khác liên quan tới những cơ sở hình thành hay thành tựu văn minh cụ thể. Trong chương trình năm 2018, một số mục hoặc yêu cầu cần đạt về cơ sở hình thành hoặc thành tựu văn minh có nêu cụ thể các nhân tố hay lĩnh vực văn hóa, nhưng trong chương trình chỉnh sửa đã cắt bỏ các lĩnh vực cụ thể này. Ví dụ, trong yêu cầu cần đạt về cơ sở hình thành văn minh Văn Lang – Âu Lạc của chương trình năm 2018 có yêu cầu HS “Nêu được cơ sở hình thành văn minh Văn Lang – Âu Lạc: điệu kiện tự nhiên, cơ sở xã hội...” thì trong chương trình chỉnh sửa đã gạch bỏ hết các nhân tố cụ thể này và chỉ còn “Nêu được cơ sở hình thành văn minh Văn Lang – Âu Lạc”. Điều này vừa tránh được sai sót (thiếu cơ sở kinh tế) vừa tạo điều kiện cho GV tùy hoàn cảnh cụ thể mà có thể đề cập tới các nhân tố cụ thể nào. Vì vậy khi giảng dạy các nội dung này GV nên tham khảo các SGK và tùy theo tình hình cụ thể mà đề ra yêu cầu.
Thứ ba: Vì chương trình chỉnh sửa này dùng cho HS các lớp đại trà, có trình độ và sự quan tâm khác nhau tới môn lịch sử, nên đại đa số các yêu cầu cần đạt trong chương trình 2018 đều được giảm đi một cấp. Ví dụ, trong chương trình năm 2018 yêu cầu HS “phân tích được” hay “giải thích được” thì trong chương trình chỉnh sửa chỉ yêu cầu HS “nêu được” hoặc “trình bày được”... Tuy nhiên, những từ khóa của câu “lệnh” này chỉ là mức tối thiểu để đánh giá năng lực HS. Tùy hoàn cảnh cụ thể của trường, lớp và trình độ của HS mà GV có thể đặt ra yêu cầu cao hơn hoặc khác đi khi tiến hành các hoạt động dạy học trên lớp.